Thứ Hai, 10 tháng 1, 2011

Mác 16:19-20: "MỌI HÀM Ý SỰ THĂNG THIÊN CỦA CHÚA JÊSUS"



Mác 16:19-20
MỌI HÀM Ý SỰ THĂNG THIÊN CỦA CHÚA JÊSUS
Phần giới thiệu
: Trong hai năm rưỡi qua, chúng ta đã đi theo Đức Chúa Jêsus Christ. Chúng ta đã theo Ngài qua những ngày tháng chức vụ của Ngài trên đất. Chúng ta đã theo Ngài khi Ngài đánh trận với các cấp lãnh đạo tôn giáo. Chúng ta đã theo Ngài khi Ngài lo đào tạo người của Ngài. Chúng ta đã theo Ngài khi Ngài chữa lành cho kẻ đau, đuổi tà ma và làm cho kẻ chết sống lại. Chúng ta đã theo Ngài khi Ngài làm ra nhiều phép lạ cả thể.
Chúng ta đã theo Ngài qua đồng vắng, qua biển cả, qua nhiều đồi núi và qua các đồng trũng. Chúng ta đã theo Ngài khi Ngài bước lên thập tự giá để chịu chết vì tội lỗi chúng ta. Chúng ta đã bước theo thi thể của Ngài khi Ngài bị người ta đưa vào mộ địa rồi ở bên trong bị đóng ấn lại. Chúng ta đã theo các môn đồ Ngài khi họ chạy ra mộ để xem coi tiếng đồn về sự sống lại của đúng không!?! Chúng ta đã theo Ngài khi Ngài đến với các môn đồ Ngài và khiến cho họ nhìn biết rằng Ngài vẫn sống và vẫn mạnh giỏi.
Hôm nay, chúng ta đi theo Chúa Jêsus và người của Ngài lên núi Ôlive. Hôm nay, chúng ta sẽ đi theo Ngài thật xa như chúng ta có thể trong lúc bây giờ. Hôm nay, chúng ta sẽ chứng kiến sự thăng thiên Ngài trở về Thiên đàng và học biết điều ấy có nghĩa gì cho chúng ta trong lúc nầy đây.
Tin Lành Mác kết thúc với Chúa Jêsus trở về Trời để ở với Cha của Ngài. Sự thăng thiên về Trời của Ngài có nhiều hàm ý thật sâu xa. Sự thăng thiên của Ngài có nhiều hàm ý cho Ngài và cho hết thảy những ai chịu theo Ngài. Hôm nay, tôi muốn rao giảng về Mọi Hàm Ý Sự Thăng Thiên của Chúa Jêsus. Tôi muốn bạn xem xét Mọi Hàm Ý Cho Cứu Chúa Mọi Hàm Ý Cho Các Thánh Đồ.
I. MỌI HÀM Ý CHO CỨU CHÚA (câu 19)
(Minh họa: Mác lồng bốn mươi ngày vào trong một câu nói. Ông nhảy từ ngày phục sinh, qua ngày Lễ Ngũ Tuần, cho đến đến ngày Chúa Jêsus trở về Trời, Công Vụ các Sứ Đồ 1:9-11. Chúng ta sẽ nghĩ rằng sự thăng thiên của Chúa Jêsus trở về Trời là một biến cố nhỏ với ít quan trọng cho chúng ta. Thật ra, sự thăng thiên của Đức Chúa Jêsus Christ trở về Trời là một trong những phần quan trọng nhất của đức tin chúng ta.
Cho phép tôi chia sẻ một vài lý do cho thấy tại sao sự thăng thiên của Chúa Jêsus về Trời là rất quan trọng như thế.
+ Sự thăng thiên thiết lập mục đích rõ ràng của Chúa – Trong khi Chúa Jêsus còn ở lại với họ, họ vẫn nắm lấy hy vọng về một Nước tạm thời, theo đời nầy. Khi Ngài rời khỏi và sai Thánh Linh Đức Chúa Trời đến, họ mới nhìn thấy rằng Chúa Jêsus đã đến để cứu hạng tội nhân và không phải ngồi trên ngôi vua theo đời nầy.
+ Sự thăng thiên chỉ ra sự hiện diện thật của Chúa – Khi Chúa Jêsus thăng thiên về Trời, cánh cửa được mở ra cho Thánh Linh Đức Chúa Trời ngự xuống trần gian, Giăng 16:7. Sự giáng lâm của Đức Thánh Linh khiến cho sự truyền bá Tin Lành được khả thi và thành công! Không những Đức Thánh Linh ở với và ở trong mọi người cùng một lúc; mà Ngài còn làm việc qua các thánh đồ cùng một lúc, làm ứng nghiệm lời tiên tri của Chúa Jêsus ở Giăng 14:12.
+ Sự thăng thiên làm cho chương trình của Chúa ra dễ hiểu – Rõ ràng là chương trình cứu rỗi của Đức Chúa Trời bao gồm ba thành viên Ba Ngôi Đức Chúa Trời. Đứa Cha sai Đức Con. Đức Con phó sự sống của Ngài và đổ huyết ra trên thập tự giá. Đức Thánh Linh được sai đến để phân phát sứ điệp ấy và ứng dụng sứ điệp đó trong tấm lòng của loài người, Giăng 16:7-11.
+ Sự thăng thiên làm cho sự trả giá của Chúa ra trọn vẹn – Công tác của Đức Chúa Con không được hoàn tất trọn vẹn cho tới khi Đức Chúa Con thăng thiên về Trời rồi ngồi xuống trong sự vinh hiển, Hêbơrơ 10:11-17.
Sự thăng thiên của Chúa Jêsus là một sự kiện rất quan trọng. Khi Chúa Jêsus thăng thiên về Trời rồi ngự vào chỗ của Ngài bên tay hữu Cha Ngài, Ngài đến đó để tiếp tục chức vụ của Ngài vì ích cho dân sự Ngài. Hãy chú ý cùng với tôi một vài phút về chỗ mà Chúa Jêsus ngự trong Thiên đàng hôm nay.
A. Ngài là Đấng bị đóng đinh trên thập tự giá – Khi Chúa Jêsus trở về trời, Ngài đã trở lại đấy mang theo trên thân thể Ngài con dấu thập tự giá, Giăng 20:27; Khải huyền 5:6; Xachari 13:6. Ngài đã trở lại Thiên đàng như Chiên Con của Đức Chúa Trời đã bị đóng đinh trên cây thập tự. Ngài đã trở lại sau khi đã hoàn tất sự chuộc tội trên thập tự giá cho hết thảy những ai chịu tin nơi Ngài bởi đức tin. Ngài đã trở về với chính huyết của Ngài trình ra trên Thiên đàng như của lễ chuộc tội trọn vẹn, đời đời, một lần đủ cả - Hêbơrơ 10:12-13; 9:11-14.
(Minh họa: Mục sư Claude Barlow là một giáo sĩ bác sĩ cho Shaohsing, Trung hoa, ở phần đầu của thế kỷ thứ 20. Trong suốt chức vụ của ông ở đó, một chứng bịnh lạ lùng bắt đầu giết chết nhiều người. Ông không thể tìm được phương cứu chữa. Trong khi tìm kiếm phương cứu chữa, ông ghi đầy sổ tay của mình với những chi tiết mà ông đã chứng kiến hàng trăm ca như vậy.
Thế rồi, với một cái lọ nhỏ chứa các phôi, ông đã dong buồm về Hoa kỳ. Ngay trước khi ông đến, ông tự làm nhiễm với chứng bịnh chết người ấy, rồi vội vã đến bịnh viện của ngôi trường Đại học Johns Hopkins. Ông đã bị bịnh nặng lắm và giờ đây nương vào các cựu giáo sư của ông hầu tìm ra phương thuốc chữa.
Họ có khả năng cứu mạng ông rồi sai ông trở lại Trung Hoa với thuốc trị chứng bịnh hiểm nghèo kia. Trong quá trình ấy, thật nhiều sinh mạng đã được giải cứu.
Ở giữa bịnh dịch mà chúng ta gọi là tội lỗi, Chúa Jêsus đã bước lên thập tự giá và tự mình nhiễm lấy căn bịnh chết chóc kia. Khi ấy Ngài phó chính mình Ngài cho sự liệu tính của Đức Chúa Cha rồi trở về Thiên đàng với phương chữa lành. Ngợi khen Đức Chúa Trời! Sự chết và âm phủ không còn là số phận của chúng ta nữa, nếu chúng ta tin cậy nơi Chúa Jêsus để được cứu).
B. Ngài là Đấng đắc thắng – E chúng ta cảm thấy tồi tệ về nổi đau mà Chúa Jêsus đã gánh lấy thay cho chúng ta trên thập tự giá, chúng ta đừng quên rằng ba ngày sau khi Ngài gục chết, Ngài đã sống lại ra khỏi mồ mả trong đắc thắng tuyệt đối! Khi Ngài thăng thiên về Trời, Ngài đã vinh thăng như một vị Tướng lãnh đã bao vây lãnh thổ của kẻ thù, lục soát hắn, lột trần hắn rồi trở về trong đắc thắng tại thành của Ngài! Đây chính xác là những điều Kinh Thánh nói Ngài đã làm, Côlôse 2:13-15.
Hãy hình dung bối cảnh ở trên trời xem; Chúa Jêsus đã chiến thắng tội lỗi và Satan tại thập tự giá cho đến đời đời. Thế rồi Ngài bẻ gãy những chấn song của sự chết, âm phủ và mồ mả trong sự phục sinh của Ngài. Rồi Ngài nhóm lại các tín đồ nào đã bị tù trong lòng đất kể từ thời Ađam, Êphêsô 4:8, rồi diễu hành trở về Trời như một vị Tướng chinh phục. Hãy tưởng tượng ở trên Trời khi Vua các vua và Chúa các chúa trở lại trong đắc thắng trọn vẹn đối với những kẻ thù của Đức Chúa Trời và dân sự của Đức Chúa Trời!
(Minh họa: Người Thắng Trận – Chúa Jêsus trở về Trời với Satan, tội lỗi, sự chết và âm phủ bị cột chặt và bánh xe ngựa của Ngài. Ngài đã trở về Trời trong vai trò Đấng Chiến Thắng Mạnh Sức!)
(Minh họa: Sau Đệ I Thế Chiến, khi nhiều binh sĩ Pháp trở về từ cuộc chiến đấu với quân Đức trong các chiến hào, họ về đến thành phố Paris. Ở đó, tại Cổng Khải Hoàn Môn, được xây dựng bởi Hoàng đế Napoleon là một ca đoàn. Khi các binh sĩ mình nhuốm máu, bẩn thỉu về đến, có người ra giúp đỡ các chiến binh què quặt và mù lòa, nhiều người khác vẫn còn bị phủ lấy với máu của đồng đội họ đã ngã xuống, ca đoàn ấy bèn cất tiếng hát: “Bạn có quyền gì khi bước vào Khải Hoàn Môn?”
Các binh sĩ ấy sẽ dừng lại trước ca đoàn, họ cùng nhau cất giọng lên khóc: “Chúng tôi vừa ở chiến trường về! Chúng tôi vừa ở chiến trường về!”
Thế rồi, các binh sĩ sẽ được nghinh đón như một vị anh hùng!
Hãy tưởng tượng bối cảnh ở Thiên đàng ngày ấy khi Chúa Jêsus bắt con đường trở về xem. Tôi có thể nghe thấy đoàn thiên binh thiên sứ cất tiếng lên như một người: “Ngài có quyền gì khi bước vào Thiên Đàng!?!”
Thế rồi, tôi có thể nghe thấy câu trả lời dấy lên từ cổ họng của Đấng đã rao giọng Ngài trong ngọn gió: “Ta đã có mặt ở đồi Gôgôtha!”
Rồi tôi có thể nhìn thấy các thiên sứ quì xuống trước mặt Ngài! Tôi có thể nhìn thấy Đức Chúa Cha đứng lên để đón Ngài và tôi nghe Đức Chúa Cha phán lần thứ ba: “Nầy là Con yêu dấu của Ta, đẹp lòng Ta mọi đàng!”)
C. Ngài là Đấng Yên Ủi – Khi Ngài trở về Trời, Ngài không bỏ dân sự Ngài có một mình đâu. Ngài đã sai Thánh Linh Ngài vào trong thế gian để ngự trị, làm cho đầy dẫy, hướng dẫn và yên ủi dân sự của Chúa, Giăng 16:7. “Đấng Yên Ủi”“Được triệu đến, được gọi đến bên một người, cung ứng sự trợ giúp; Đấng trình bày duyên cớ của người khác trước quan án, một Đấng cầu thay, mưu luận biện hộ, trợ giúp hợp pháp, một vị trạng sư; Đấng trình bày duyên cớ của người khác với một Đấng cao hơn, một Đấng cầu thay; theo một ý nghĩa, là Đấng Giúp Đỡ, Đấng Cứu Trợ, Đấng Nâng Đỡ, trợ giúp”.
Ngài đã sai Đức Thánh Linh, là Đấng đã đến mang theo các ân tứ cho dân sự của Đức Chúa Trời, Êphêsô 4:8; I Côrinhtô 12. Các ân tứ của Ngài khiến cho sự thờ phượng của chúng ta ra khả thi! Sự biến đổi nơi Phierơ giữa đêm ông chối Chúa Jêsus ba lần đến ngày Lễ Ngũ Tuần khi ông rao giảng trong quyền phép của Đức Thánh Linh và 3.000 người đã được cứu có thể được lần theo quyền phép của Đức Thánh Linh trên đời sống của ông.
D. Ngài là Đấng Xưng Nhận – Một trong các chức vụ quan trọng nhất mà Chúa cung ứng cho chúng ta là chức vụ cầu thay của Ngài. Theo Kinh Thánh, Chúa Jêsus xưng chúng ta ra trước ngôi của Đức Chúa Trời, Mathiơ 10:32. Ngài là Đấng Trung Bảo của chúng ta, I Timôthê 2:5, Giăng 14:6. Ngài là Trạng Sư của chúng ta, 1 Giăng 2:2. Ngài bày tỏ tấm lòng và nhu cần của chúng ta ra trước ngôi thi ân, Rôma 8:34; Hêbơrơ 7:25. Cảm tạ Đức Chúa Trời, luôn luôn có Đấng cầu thay cho chúng ta! Ngay cả khi chúng ta không có mặt ở chỗ cầu nguyện, Ngài luôn luôn hiện diện! Vì Ngài đã chu toàn trọn vẹn chương trình cứu chuộc của Đức Chúa Trời rồi, Ngài ngự trong sự hiện diện của Đức Chúa Cha như sự bảo đảm cho mọi lời hứa trong giao ước mới! Chính sự hiện diện của Ngài ở trên Trời Đấng cầu thay của chúng ta!
E. Ngài là Đấng khẳng định – Sự hiện diện của Ngài ở trên trời là sự bảo đảm cho sự hiện diện của chúng ta ở trên trời một ngày kia, Êphêsô 2:6! Tại sao chứ? Vì, khi chúng ta được cứu, chúng ta được đặt để ở trong Ngài, I Côrinhtô 12:13 và Ngài được đặt để trong chúng ta, Côlôse 1:27. Sự hiện diện của Ngài trong chúng ta là sự bảo đảm của Đức Chúa Trời rằng Ngài sẽ làm cho trọn hết công tác của Ngài nơi chúng ta, Êphêsô 1:13-14. Sự hiện diện của chúng ta trong Ngài có nghĩa là mặc dù chúng ta đang sống trên đất nầy tối nay, y như Đức Chúa Trời vốn quan tâm, chúng ta đã có mặt rồi ở quê hương vậy!
Chúa Jêsus đã thăng thiên về Trời làm “Đấng Tiền Khu” của chúng ta, Hêbơrơ 6:18-20! Từ ngữ “Đấng Tiền Khu” đề cập tới một “hướng đạo sinh, người mở đường, một người chỉ đường cho nhiều người khác đi theo”. Chúa Jêsus là “Đấng Tiền Khu” của chúng ta! Ngài đã đi trước dân sự Ngài rồi thả neo bên trong bức màn ở Thiên đàng! Ngài đã mở ra con đường, và Ngài dọn con đường được sạch sẽ và một trong những ngày nầy, cơn thủy triều sẽ đến và chúng ta sẽ có thể dong buồm thẳng vào Hang Yên Nghỉ trong sự vinh hiển!
F. Ngài là Đấng Đòi Hỏi – Khi Đức Chúa Jêsus Christ thăng thiên về Trời, Ngài đã thăng lên trong vai trò Chúa Vinh Hiển. Ngài thăng lên như Đấng đáng được thờ lạy, hầu việc và yêu thương. Của lễ và sự chết của Ngài trên thập tự giá là lý do đủ cho Ngài đòi hỏi sự thờ lạy từ những kẻ Ngài đã cứu chuộc bởi ân điển của Ngài.
(Minh họa: Trong một ngôi làng châu Phi, đã đến thời điểm chọn vị tù trưởng mới. Một vài người có mặt trong cuộc chạy, giữa vòng họ là một người có tên là Dazee. Vào ngày tuyển chọn, từng ứng viên phát biểu và nổ lực gây ảnh hưởng để dân chúng chọn lấy họ.
Khi đến lúc Dazee phát biểu, ông nhắc cho dân sự nhớ đến cái ngày mà con sư tử đột nhập vào làng. Ông nhắc cho họ nhớ đến mối nguy hiểm cho con cái và ngôi làng đã đến trong ngày ấy. Thế rồi, ông nhắc cho họ nhớ thể nào ông đã lao về hướng con sư tử ấy rồi thọc tay vào cổ họng nó mà giết chết nó đi.
Khi ấy, ông đã giơ cánh tay bị tật của mình lên rồi kêu lớn tiếng: “Trên cơ sở thương tích của tôi, tôi đòi hỏi quyền trở thành lãnh đạo của quí vị”.
Khi dân chúng nghe lời lẽ của ông rồi nhìn thấy bằng chứng khả thi của những điều mà Dazee đã làm cho họ; họ đã hô lên với một giọng nói: “Dazee là lãnh tụ của chúng ta! Dazee là lãnh tụ của chúng ta!”)
Tôi gợi ý với bạn rằng trên cơ sở chỉ các thương tích của Ngài thôi, Chúa Jêsus xứng đáng được thờ phượng, hầu việc và yêu thương bởi hết thảy những ai nhìn biết Ngài. Có phải Ngài là Chúa của sự sống bạn tối nay không? Tôi muốn đề nghị với bạn rằng nếu Chúa Jêsus không phải là Chúa của muôn vật, thế thì Ngài thực sự chẳng phải là Chúa chi hết, Công Vụ các Sứ Đồ 10:36.
G. Ngài là Đấng Trọn Vẹn – Chúa Jêsus để lại cho chúng ta lời hứa rằng Ngài sẽ đi sửa soạn cho chúng ta một chỗ ở trên Trời để chúng ta có thể ở đó với Ngài suốt cõi đời đời, Giăng 14:1-3. Giống như chàng rễ sửa soạn một chỗ cho cô dâu mình, Chúa Jêsus đã phó chính mình Ngài để chu cấp một chỗ cho chúng ta. Và, đây là chỗ đó – Minh họa: Khải huyền 21-22. Một ngày kia, chúng ta sẽ hiệp với Ngài ở chỗ mà Ngài đang sửa soạn sẵn cho chúng ta!
H. Ngài là Đấng Hầu Đến – Trong khi Chúa Jêsus còn ở đây, Ngài nói cho người của Ngài biết rằng Ngài sẽ ra đi. Thế nhưng, Ngài cũng hứa với họ rằng Ngài sẽ trở lại, Giăng 14:1-3. Lời hứa nầy đã được khẳng định bởi các thiên sứ đến dự sự thăng thiên của Chúa, Công Vụ các Sứ Đồ 1:11. Một ngày kia không bao lâu nữa, Cứu Chúa của chúng ta sẽ xuất hiện trên các đám mây trên đất và Ngài sẽ kêu gọi dân sự Ngài lên gặp Ngài trên không trung, I Têsalônica 4:16-18. Vào ngày ấy, loại thân thể tội lỗi, ô uế nầy sẽ được biến đổi ra giống theo ảnh tượng của Ngài, I Côrinhtô 15:51-54. Một ngày kia không bao lâu nữa, chúng ta sẽ được ở với Ngài và chúng ta sẽ được ra giống như Ngài, 1 Giăng 3:1-3.
I. Mọi Hàm Ý Dành Cho Cứu Chúa
II. MỌI HÀM Ý DÀNH CHO CÁC THÁNH ĐỒ (câu 20)
(Minh họa: Tôi nghĩ rõ ràng là từ những việc mà tôi vừa nhắc tới cho thấy rằng sự thăng thiên của Chúa Jêsus vốn có một số hàm ý cho Cứu Chúa. Tôi nghĩ rõ ràng là Thiên đàng đã được thay đổi bởi sự thăng thiên của Chúa Jêsus. Nếu khả thi, Thiên đàng đã ra tốt đẹp hơn trước khi Ngài rời khỏi đó để giáng trần. Vì Đức Chúa Jêsus Christ đã lìa bỏ thiên đàng, trở nên một con người, chịu chết trên thập tự giá vì cớ tội lỗi, đã sống lại từ kẻ chết và đã thăng thiên về Trời, Thiên đàng hiện, và đời đời sẽ ra khác biệt. Vì cớ những điều Chúa Jêsus đã làm, Thiên đàng không còn là ngôi nhà của Đức Cha, Đức Con, Đức Thánh Linh, cùng vô số thiên sứ nữa. Cánh cửa Thiên đàng đã rộng mở cho từng người nào chịu tin cậy Chúa Jêsus bởi đức tin. Mọi hàm ý sự thăng thiên của Chúa Jêsus cũng chuyển một số ơn phước rất đặc biệt cho các thánh đồ của Đức Chúa Trời nữa.
Trong khi sự thăng thiên của Ngài chạm đến Thiên đàng, sự ấy cũng chạm đến những người Ngài để lại sau lưng để lo làm công việc của Ngài ở trên đất. Câu sau cùng trong sách Mác cho chúng ta thấy thể nào sự thăng thiên tác động đến các tôi tớ của Chúa hôm nay).
A. Chức vụ của họ – Mười ngày sau khi Chúa Jêsus thăng thiên về Trời, một biến cố lạ lùng đã diễn ra. Bạn có thể đọc điều nầy ở Công Vụ các Sứ Đồ 1-2. Các môn đồ, số khoảng 120 người, đã cầu nguyện, với một sự nhất trí trọn vẹn, trong một căn phòng ở thành Jerusalem. Trong khi họ cầu nguyện, Thánh Linh của Chúa Jêsus được hứa gửi đến cho họ đã giáng trên họ và họ được ban cho quyền phép của Ngài để rao giảng sứ điệp của Ngài cho một thế giới bị hư mất, Công Vụ các Sứ Đồ 1:8.
Vào ngày ấy, họ đã rao giảng Tin Lành tại thành Jerusalem và 3.000 người từ khắp thế giới lúc bấy giờ đã được cứu. Các môn đồ và những người mới trở lại đạo đã đem sứ điệp Tin Lành đi khắp mọi nơi. Bất cứ đâu họ đến họ đã nói cho mọi người biết rằng họ đã gặp “Chúa Jêsus chịu chết vì tội chúng ta theo Lời Kinh Thánh; và Ngài đã được chôn, Ngài đã sống lại vào ngày thứ ba theo Lời Kinh Thánh”.
Nhiều ngàn người đã nghe các tin tức tốt lành nầy và đã đến với đức tin nơi Chúa Jêsus, và đạo Tin Lành tiếp tục lan rộng. Lan rộng đến nỗi các môn đồ bị cáo là “đã gây thiên hạ nên loạn lạc”, Công Vụ các Sứ Đồ 17:6. Những gì họ thực sự đang lo làm đúng là những gì Chúa bảo họ phải lo làm ở câu 15. Họ chỉ đang chia sẻ Tin Lành.
(Minh họa: Điều nầy vẫn đang hoạt động hôm nay! Sứ điệp Tin Lành đã không thay đổi trong hơn 2.000 năm qua. Chúng ta có đặc ân đem chính sứ điệp mà các môn đồ đã rao giảng cho thế giới của chúng ta ngày nay.
Mọi người ở chung quanh chúng ta là kẻ bị hư mất và đang dãy chết, họ cần phải nghe biết Chúa Jêsus đã dọn một con đường để cho họ được cứu. Họ cần phải biết có ai đó yêu mến họ đủ để nói cho họ biết về Đức Chúa Jêsus Christ. Đấy là mạng lịnh của Ngài, và đấy là sứ mệnh của chúng ta, Mathiơ 28:19-20.
Liệu hết thảy họ có chịu nghe chúng ta không? Không! Liệu hết thảy họ sẽ đáp ứng bằng cách đến với Chúa Jêsus để được cứu không? Không! Trong khi có nhiều người sẽ không đáp ứng, một số người sẽ đáp ứng! Khi Phaolô và Banaba rao giảng ở Antiốt, đây là những gì Thánh Linh Đức Chúa Trời đã phán về sự cứu rỗi ở đó: “Những người ngoại nghe lời đó thì vui mừng, ngợi khen đạo Chúa, và phàm những kẻ đã được định sẵn cho sự sống đời đời, đều tin theo” Công Vụ các Sứ Đồ 13:48.
Không phải người nào nghe sứ điệp đều tin theo đâu, song một số người sẽ tin theo! Vì thế, chúng ta phải sống giống như các môn đồ và rao giảng sứ điệp ấy ở bất cứ đâu!)
B. Thầy của họ – Chúa Jêsus đã thăng thiên về Trời rồi, nhưng Kinh Thánh cho chúng ta biết rằng Ngài “cùng làm với môn đồ”. Cụm từ có ý nói rằng Ngài là “bạn đồng công của họ”. Làm sao điều đó có thể khả thi được chứ? Ngài đang ở trên Trời và họ đang ở dưới đất. Làm sao Chúa Jêsus cùng làm việc với các môn đồ Ngài cho được chứ?
Thứ nhứt, Ngài đã cùng làm việc qua sự cầu thay của Ngài. Khi Ngài cầu thay cho họ ở trên Trời bên tay hữu Đức Chúa Trời, mọi quyền phép họ có cần để hoàn thành sứ mệnh của họ đã được phó cho họ.
Thứ hai, Ngài cùng làm với họ qua quyền phép của Đức Thánh Linh. Khi Thánh Linh của Đức Chúa Trời ngự đến, Ngài đã làm những điều mà Chúa Jêsus không thể làm. Trong khi Chúa Jêsus còn ở đây trong thân thể con người, Ngài bị hạn chế đối với một địa điểm ở một thời điểm về mặt địa lý. Nếu Ngài còn ở với bạn, Ngài không thể ở với tôi. Khi Thánh Linh Đức Chúa Trời ngự đến, Ngài ngự vào từng đời sống của mỗi môn đồ Ngài. Ngài đã ngự đến trong các môn đồ vào ngày Lễ Ngũ Tuần. Ngài đã bước vào trong từng thánh đồ của Đức Chúa Trời, ngay thời điểm họ trở lại đạo, kể từ ngày ấy, I Côrinhtô 12:13; Galati 4:6; Rôma 8:9.
Khi chúng ta làm việc cho Chúa trong thời buổi nầy, chúng ta có thể quyết chắc rằng Ngài sẽ ở với chúng ta, Hêbơrơ 13:5; Mathiơ 28:20. Chúng ta cũng dám chắc rằng Ngài sẽ đứng với chúng ta mặc lấy quyền phép cho chúng ta rồi sử dụng chúng ta cho sự vinh hiển của Ngài. Ngài vẫn làm việc với dân sự của Ngài! Tôi ngợi khen Chúa vì tôi không phải làm điều chi Ngài kêu gọi tôi làm một mình!
C. Đấng Tác Động họ – Khi họ rao giảng, Chúa Jêsus từng “làm vững đạo” với những sự tỏ ra quyền phép thiêng liêng. Một số dấu lạ là những dấu mà chúng ta đã nói tới lần sau cùng ở các câu 17-18. Các dấu lạ nầy không còn có nữa, song Đức Chúa Trời vẫn bận rộn lo làm cho vững Đạo của Ngài.
Ngài khẳng định Lời của Ngài bằng cách chạm đến tấm lòng của một tội nhân hư mất. Ngài kéo họ đến với Chúa Jêsus và Đức Chúa Trời cứu họ khi họ đến bởi đức tin. Ngài thay đổi đời sống ấy và làm cho vững Đạo của Ngài qua việc biến họ thành một “người mới”, II Côrinhtô 5:17.
Ngài làm cho vững Đạo của Ngài bằng cách giữ các lời hứa của Ngài trong đời sống của dân sự Ngài. Ngài đã hứa, họ đã cầu xin và Ngài làm cho vững vì cớ họ. Phần nhiều người trong chúng ta đã được ích từ loại khẳng định đó.
Ngài làm cho vững Đạo của Ngài bằng cách phán với dân sự Ngài qua Lời của Ngài. Sự thể giống như nước tưới trên một linh hồn đang khát khao. Sự thể giống như đồ ăn cho một người đang thiếu kém. Sự thể giống như dầu xức cho tâm linh bị tổn thương. Cảm tạ Đức Chúa Trời, Ngài khẳng định Lời của Ngài trong sự tỏ ra quyền phép vì sự vinh hiển của Ngài! Đấy là kinh nghiệm của tôi rất nhiều lần trải qua bao năm tháng!
Phần kết luận: Sự thăng thiên của Chúa Jêsus là một biến cố thật lạ lùng. Sự thăng thiên ấy mở ra cánh cửa của thành phố ấy cho hết thảy những người được chuộc phải bước theo. Sự thăng thiên ấy khiến Đức Thánh Linh phải ngự xuống để làm đầy dẫy và cảm động các thánh đồ của Đức Chúa Trời. Sự thăng thiên ấy thúc đẩy dân sự của Đức Chúa Trời phải làm việc vì sự vinh hiển của Đức Chúa Trời trên thế gian. Cảm tạ Đức Chúa Trời vì cớ sự thăng thiên ấy.
Mác kết thúc quyển sách của ông [trong bản Kinh Thánh Anh ngữ] bằng từ ngữ “amen”. Chúng ta thường nhìn thấy từ ngữ ấy và một lời kết. Chúng ta kết thúc lời cầu nguyện của mình với từ ngữ đó. Chúng ta nói ra từ ngữ ấy khi chúng ta nghe những gì là câu kết cho một vấn đề.
Phải, từ ngữ “amen” có nghĩa là “nguyện sẽ được như vậy”. Khi Mác sử dụng từ ngữ ấy, ông không kết thúc câu chuyện nói tới Chúa Jêsus hay Hội thánh. Khi Mác nói “amen” ở đây, ông đang nói: “nguyện sẽ được như vậy và chắc như thế!” Nói khác đi, Mác đang nói: “Còn có nhiều điều nữa trong câu chuyện. Chưa phải là hết đâu!”
Và, câu chuyện vẫn chưa phải là hết đâu. Chúa Jêsus vẫn ở trên Trời. Ngài vẫn ngự bên tay hữu của Cha Ngài. Ngài vẫn đang cầu thay cho dân sự khi họ hầu việc Ngài trong thế gian nầy. Thánh Linh của Đức Chúa Trời vẫn ngự ở đó làm cho vững sự rao giảng Lời của Đức Chúa Trời bằng cách cứu những linh hồn bị hư mất và thay đổi đời sống của người được chuộc. Hội thánh vẫn còn ở đây đang nói cho thế giới bị hư mất biết rằng Chúa Jêsus có quyền cứu rỗi.
Và, bạn vẫn đang có mặt ở đây. Một, bạn là linh hồn bị hư mất đang cần được cứu, hoặc bạn là một thành đồ của Đức Chúa Trời đã được chuộc sẽ nói cho thế giới bị hư mất biết về Chúa Jêsus. Sự thăng thiên của Ngài có ý nghĩa như thế nào đối với bạn?
Nếu bạn bị hư mất, thì có nghĩa là bạn cần phải đến với Chúa Jêsus để được cứu. Nếu bạn đã được cứu rồi, thì có nghĩa là bạn cần phải tự khẳng định mình với một đời sống phục vụ. Nếu Chúa đã phán với tấm lòng của bạn, bạn hãy đến khi Ngài đang còn kêu gọi!

Mác 16:15-18: "NHỮNG LỜI GIẢ BIỆT"



Mác 16:15-18
NHỮNG LỜI GIẢ BIỆT
Phần giới thiệu
: Chính vào ngày mà Đức Chúa Jêsus Christ đã sống lại từ kẻ chết trong đắc thắng đời đời, Ngài đã bắt đầu tiến trình sửa soạn cho các môn đồ Ngài về sự ra đi của Ngài. Chúa Jêsus vốn biết rõ Ngài sẽ thăng thiên về trời, và Ngài đã, 40 ngày sau khi Ngài sống lại từ kẻ chết. Chúa Jêsus vốn biết rõ khi Ngài ra đi, các môn đồ Ngài sẽ nắm lấy sứ mệnh nói tới công tác liên tục của Ngài trong thế gian. Họ đã được giao cho phần việc đem sứ điệp cứu rỗi cho đến các đầu cùng đất.
Nếu họ mang lấy sứ mệnh ấy, họ cần một sự hiểu biết chính xác sứ mệnh ấy đòi hỏi điều gì. Họ cần phải biết rõ sẽ có những thành công, và họ cần phải biết rõ cũng sẽ có nhiều thất bại. Họ cần phải biết rõ có người sẽ tin theo sứ điệp của họ, trong khi nhiều người khác sẽ từ chối chính sứ điệp ấy. Họ cần lời yên ủi, lời hy vọng và lời dạy dỗ. Đấy chính xác là những gì họ đã nghe từ Chúa Jêsus ngày ấy.
Hôm nay, tôi muốn nhắm vào Những Lời Giả Biệt của Chúa chúng ta nói với các môn đồ Ngài. Với những lời nầy, tôi nhìn thấy ba câu nói rõ ràng ra từ Chúa. Trong Những Lời Giả Biệt của Ngài, Chúa Jêsus nói tới Đòi Hỏi Dành Cho Hạng Thánh Đồ. Ngài nói tới Trách Nhiệm Của Tội Nhân. Ngài cũng nói tới Sự Công Nhận Hàng Tôi Tớ Của Ngài. Tôi muốn chia sẽ mấy câu nói nầy với bạn hôm nay khi tôi rao giảng về Những Lời Giả Biệt.
I. ĐÒI HỎI DÀNH CHO HẠNG THÁNH ĐỒ (câu 15)
A. Sứ điệp của chúng ta – Các môn đồ được truyền cho phải “giảng Tin Lành”. Họ cần phải vào trong thế gian đem “những tin tức tốt lành” nói tới ơn cứu rỗi cho mọi người nào chịu nghe theo sứ điệp ấy. Từ ngữ “Tin Lành” có ý nói tới “những tin tức tốt lành”, và đấy chính xác những gì là “Tin Lành”. Các môn đồ đã được trao cho một sứ điệp nói tới “những tin tức tốt lành” cho muôn dân.
Sứ điệp mà họ cần phải rao giảng là sứ điệp nào? Sứ điệp ấy được nhắc tới rõ ràng bởi Sứ đồ Phaolô ở I Côrinhtô 15:3-4: “Vả trước hết tôi đã dạy dỗ anh em điều mà chính tôi đã nhận lãnh, ấy là Đấng Christ chịu chết vì tội chúng ta theo lời Kinh Thánh; Ngài đã bị chôn, đến ngày thứ ba, Ngài sống lại, theo lời Kinh Thánh”.
Tin Lành gồm có ba thành phần quan trọng. Cho phép tôi chia sẻ chúng với bạn ngay bây giờ đây:
1. “Đấng Christ chịu chết vì tội chúng ta theo lời Kinh Thánh...” – Tin tức tốt lành là đây: Chúa Jêsus đã chịu chết vì tội lỗi của hết thảy những ai bởi đức tin tin theo Ngài. Khi Chúa Jêsus bước lên thập tự giá và chịu thương khó, sự xấu hổ và sự phân cách ra khỏi Đức Chúa Trời, Ngài đã không làm điều đó cho bản thân Ngài. Ngài đã làm thế vì hết thảy những ai chịu tin nơi Ngài để được cứu, II Côrinhtô 5:21; I Phierơ 3:18. Muốn được cứu, bạn phải tin như thế!
2. “Ngài đã bị chôn...” – Tin tức tốt lành là đây: Sau khi Chúa Jêsus gục chết, thi thể Ngài được đem đặt trong một ngôi mộ. Tuy nhiên, linh hồn của Ngài, đã đi vào âm phủ, Êphêsô 4:8-10; I Phierơ 3:18-20. Chúa Jêsus đã bước vào chốn ấy bên dưới đất, nơi linh hồn người chết sẽ bị cầm giữ. Tại nơi đó, có một chốn được gọi là “Barađi” hay “lòng của Ápraham”. Đây là chỗ mà mọi thánh đồ xưa kia của Đức Chúa Trời đã chờ đợi sự cứu chuộc phải được hoàn tất. Ở đó, đã và vẫn còn có một chốn được gọi là “Âm phủ”. Đây là chỗ mà mọi linh hồn của kẻ bị mất bị cầm giữ. Từng tội nhân hư mất từ Cain cho đến người cuối cùng phải chết hôm nay đang ở đó.
Chúa Jêsus đã bước vào chốn ấy rồi rao giảng những tin tức tốt lành nói tới Ngài đã chịu chết vì tội lỗi và vì hạng tội nhân. Ngài nói cho David, Môise, Ápraham và phần còn lại biết rằng chương trình cứu chuộc đã được hoàn tất rồi. Khi ấy Ngài dẫn họ ra khỏi nơi đó mà về quê hương trên Thiên đàng. Ngài nói cho các linh hồn hư mất trong chốn ấy biết rằng sự vô tín của họ đã được khẳng định và họ bị định phải qua cõi đời đời trong Địa Ngục. Tôi tin Ngài cũng công bố ra sự thực là Ngài đã giải phóng dân sự Ngài ra khỏi vòng nô lệ của tội lỗi, Satan và Địa Ngục cho đến đời đời rồi. Một thành phần quan trọng trong ơn cứu rỗi là chân lý cho rằng Chúa Jêsus buông tha cho từng linh hồn mà Ngài cứu chuộc!
3. “đến ngày thứ ba, Ngài từ kẻ chết sống lại theo Lời Kinh Thánh” – Tin tức tốt lành là đây: Đức Chúa Jêsus Christ đã sống lại ra khỏi mồ mả trong đắc thắng và quyền phép. Khi Chúa Jêsus chịu chết trên thập tự giá, Ngài đã phó sự sống Ngài vì dân sự của Ngài. Khi Ngài gục chết, Ngài đã kêu lên: “Mọi sự đã được trọn!” Trong giây phút quan trọng ấy, Chúa Jêsus đã công bố chương trình cứu rỗi được hoàn tất và Đức Chúa Trời đã vừa lòng. Khi Chúa Jêsus sống lại từ kẻ chết ba ngày sau đó, Đức Chúa Cha đã phán: “Amen!” Nếu Chúa Jêsus là một con người bình thường, Ngài sẽ không ra khỏi mồ mả kia được đâu. Chúa Jêsus chẳng phải là một con người bình thường! Ngài là Đức Chúa Trời ở trong xác thịt. Khi Ngài gục chết, một người vô tội đã bị kết án bằng cái chết. Vì Ngài chẳng có tội lỗi chi hết, sự chết không có quyền cầm giữ Ngài. Nó chẳng có một xưng nhận nào về Ngài cả, Rôma 6:23. Vì thế, Chúa Jêsus có quyền bước ra khỏi mồ mả trong đắc thắng và quyền phép, hứa hẹn sự sống đời đời cho hết thảy những ai chịu tin nơi danh của Ngài.
Đấy là sứ điệp mà chúng ta được trao cho để rao giảng. Đấy là những tin tức tốt lành nói rằng Đức Chúa Jêsus Christ yêu mến thế gian đến nỗi đã phó mạng sống Ngài để chuộc lấy hạng tội nhân, Giăng 3:16. Đây là những tin tức tốt lành nói rằng Ngài đã đánh bại ma quỉ và thế lực của hắn cho đến đời đời rồi, I Giăng 3:8. Đây là những tin tức tốt lành cho rằng Ngài đã sống lại từ kẻ chết để ban ơn cứu rỗi cho hết thảy những ai chịu tin theo Ngài, Hêbơrơ 7:25.
Nếu bạn đã tin theo sứ điệp ấy, tôi thách bạn chia sẻ nó với nhiều người khác. Nếu bạn chưa tin sứ điệp đó, tôi thách bạn hãy nhìn vào Chúa Jêsus bởi đức tin hôm nay mà được cứu!
B. Công trường truyền giáo của chúng ta – Các môn đồ cần phải đem “những tin tức tốt lành” đi “khắp thế gian”. Không một nơi nào bị hạn chế. Không một nhóm sắc tộc nào bị chừa ra. Bất luận sắc tộc ấy gian ác đến ngần nào, họ sống ở đâu, hay trông họ như thế nào đi nữa, họ cần phải được cung ứng cho sứ điệp nầy. Công trường truyền giáo của chúng ta vẫn có ở khắp nơi nào có người ta ở. Cụm từ “mọi người” đề cập tới từng cá nhân nào mang lấy ảnh tượng của Đức Chúa Trời. Từng người một, bất chấp tình trạng tội lỗi, màu da, hay lai lịch tôn giáo của họ, là một ứng viên cho “những tin tức tốt lành”.
Dù chúng ta thuật lại những “tin tức tốt lành” ngang qua đại dương hay trên đường phố, chúng ta cần phải thuật lại những tin tức ấy. Khi chúng ta mở miệng ra rồi nói cho người khác biết tin tức đó, hay khi chúng ta gửi những đồng đôla của mình cho các giáo sĩ để họ có thể thuật lại ở nơi họ đang sinh sống, chúng ta đã dấn thân vào công cuộc truyền giáo.
C. Phương pháp của chúng ta – Mạng lịnh của Chúa là “Hãy đi...giảng”. Cụm từ “Hãy đi” là một mạng lịnh. Đây không phải là một lời đề nghị để chọn lựa chức vụ đâu. Đây là lời kêu gọi phải hành động! Chúng ta không phải tranh cãi dù chúng ta có chia sẻ Tin Lành hay không, chúng ta cần phải ra đi và chia sẻ Tin Lành ấy.
Cụm từ ấy rất là thú vị vì nó được viết ra trong một thì cần phải đọc như thế nầy: “Khi các ngươi đi...”. Nói khác đi, khi chúng ta sống cuộc đời nầy, chúng ta cần phải ở trong công việc thuật lại “những tin tức tốt lành” cho tha nhân biết.
Chúng ta cần phải thuật lại tin tức ấy với môi miệng của mình. Điều nầy rất rõ ràng từ chữ “giảng”, có nghĩa là “nói năng giống như sứ giả của nhà vua” vậy. Chúng ta cần phải đem sứ điệp của Vua chúng ta đến với thế gian bằng uy quyền và sự bảo đảm. Chúng ta cần phải nói cho họ biết mọi điều chúng ta biết về Ngài. Chúng ta cần phải thuật lại sứ điệp với sự bảo đảm rằng Ngài sẽ mặc ấy quyền phép cho chúng ta để thuật lại cho thế gian nầy biết mọi điều Ngài đã làm cho chúng ta, Công Vụ các Sứ Đồ 1:8. Tin Lành là một sứ điệp được vạch ra để đem truyền đạt bằng lời nói. Đức Chúa Trời đã chọn rao giảng làm phương pháp cho việc cung ứng sứ điệp của Ngài cho một thế giới bị hư mất, Rôma 10:17; I Côrinhtô 1:21.
Chúng ta cần phải thuật lại câu chuyện với đời sống của chúng ta. Nghĩa là, chúng ta cần phải sống trong một phương thức để hạng người hư mất đang sống quanh chúng ta sẽ nhìn thấy sự khác biệt trong đời sống của chúng ta và sẽ nhìn biết rằng Đức Chúa Trời đã làm một việc gì đó nơi chúng ta, Minh họa: Philíp 1:27; Matihơ 5:16.
(Lưu ý: Đấy là mạng lịnh của Chúa cho dân sự của Ngài. Chúng ta lo liệu ra sao trong vai trò một Hội thánh khi đến lúc phải cưu mang Sứ Mệnh Cao Cả? Bạn xử sự ra sao trong vai trò cá nhân khi đến lúc chia sẻ đức tin của mình? Mạng lịnh là “Ngươi hãy đi”. Đây là một mạng lịnh dành cho từng và mỗi con cái của Đức Chúa Trời phải năng động trong công tác chia sẻ “những tin tức tốt lành” của Tin Lành cứu rỗi!)
I. Đòi hỏi dành cho hạng thánh đồ
II. TRÁCH NHIỆM CỦA TỘI NHÂN (các câu 16-17)
(Minh họa: Hạng thánh đồ có trách nhiệm phải chia sẻ Tin Lành ân điển. Hạng tội nhân cũng có trách nhiệm khi đến với Tin Lành. Trách nhiệm của họ có ba phần).
A. Phải trả lời – “Ai tin” Khi một tội nhân nghe giảng sứ điệp Tin Lành, người ấy về mặt cá nhân có trách nhiệm phải tin theo sứ điệp ấy. Sự cứu rỗi diễn ra khi một tội nhân hư mất nghe những “tin tức tốt lành” nói tới ơn cứu rỗi, bị thuyết phục về tội lỗi và tin theo sứ điệp nói Chúa Jêsus chịu chết cho người và đã sống lại từ kẻ chết. Tội nhân tin theo sứ điệp, tìm kiếm bởi đức tin và ngay lập tức được biến đổi. Sự cứu rỗi là công việc của đức tin trong tấm lòng của tội nhân hư mất, họ tìm kiếm Chúa Jêsus bởi đức tin, và ngay lập tức được biến đổi bởi ân điển và quyền phép cứu rỗi của Ngài.
Cho phép tôi nhấn mạnh một lần nữa rằng ơn cứu rỗi không hề đến từ các việc lành của một người, những việc nhơn đức, hay lối sống hiền lành đâu. Ơn cứu rỗi cũng không đến từ tôn giáo hay nghi thức. Sự cứu rỗi luôn luôn là “bởi ân điển nhờ đức tin”, Êphêsô 2:8-9.
B. Hành động – “Tin và chịu phép báptêm” – Câu nầy bị hiểu sai và áp dụng sai bởi nhiều người muốn thêm phép báptêm vào đức tin như điều kiện để được cứu. Tôi có nhận nhiều e-mail nói về vấn đề nầy hơn bất kỳ vấn đề nào khác. Có nhiều người cảm thấy rằng phép báptêm là một thành phần quan trọng trong sự cứu rỗi. Tuy nhiên, sự thực của vấn đề rất là khác xa lắm. Cho phép tôi chia sẻ một vài lý do cho thấy tại sao tôi nói đây chẳng phải là sự dạy nói tới sự tái sanh qua phép báptêm.
+ Tên cướp trên thập tự giá không hề chịu phép báptêm, tuy nhiên ông ta được bảo đảm về sự cứu rỗi bởi Chúa Jêsus, Luca 23:43.
+ Người dân Ngoại nào tin ở Xê-sa-rê đều chịu phép báptêm sau khi họ tin Chúa, Công Vụ các Sứ Đồ 10:44-48.
+ Chính mình Chúa Jêsus không làm phép báptêm, Giăng 4:1-2. Điều nầy dường như là kỳ lạ nếu sự cứu rỗi đến từ phép báptêm.
+ Phaolô nói cho người thành Côrinhtô biết rằng ông lấy làm vui khi ông chỉ làm phép báptêm cho vài người trong số họ, I Côrinhtô 1:14-16. Chắc chắn là Phaolô sẽ không cảm tạ Đức Chúa Trời về điều đó, nếu phép báptêm là quan trọng để được cứu.
+ Gần 150 phân đoạn trong Tân Ước dạy chúng ta sự cứu rỗi chỉ nhờ một mình đức tin mà thôi.
+ Trong Tân Ước, phép báptêm được nối kết chặt chẽ với sự chết và sự chôn, Rôma 6:1-5. Đây là sự tượng trưng của việc chết đi đời sống cũ tội lỗi. Mặt khác, đức tin được gắn với sự sanh lại, hay đời mới trong Đấng Christ.
Nếu Chúa Jêsus không nói tới việc chịu phép báptêm để được cứu, thì Ngài đang nói tới điều gì chứ? Chúa Jêsus đang nói tới sự vâng phục đối với Đức Chúa Trời. Người nào được cứu bởi ân điển sẽ có một sự khao khát muốn đi theo Chúa trong phép báptêm của người tín đồ. Họ sẽ có sự khao khát muốn đưa ra bằng chứng rõ ràng, công khai về đức tin mới tìm được của họ. Đối với nhiều người, phép báptêm của họ nằm trong cơ hội thứ nhứt để nói cho đám đông biết rằng họ đã tin cậy Chúa Jêsus và Ngài đã cứu lấy linh hồn họ.
Dòng cuối là đây: Chúa Jêsus đang nói cho người thuộc về Ngài biết rằng ơn cứu rỗi kết quả trong sự vâng phục. Chúng ta không được cứu bởi việc làm của mình, nhưng chúng ta được cứu để làm thật nhiều việc, Êphêsô 2:10. Phép báptêm là một việc làm ở bề ngoài, nói tới một sự cứu rỗi ở bề trong. Phép báptêm là bằng chứng công khai của ơn cứu rỗi đã diễn ra bởi đức tin khi tội nhân hư mất tin tưởng nơi Đức Chúa Jêsus Christ. Đồng thời, một người chối không đi theo Chúa trong phép báptêm thì chẳng được cứu đâu.
(Lưu ý: Tôi biết có người sẽ đọc mấy lời nầy và muốn viết cho tôi câu “đừng kể đến tôi”. Đừng khó chịu chứ! Tôi sẽ không tranh cãi với bạn đâu và tôi sẽ chẳng trả lời nữa. Tôi không có thì giờ để tranh luận đâu).
C. Chấp nhận – “Ai chẳng tin sẽ bị đoán phạt” – Tội nhân hư mất có cơ hội để tin theo đạo Tin Lành và được cứu. Người ấy có quyền chối bỏ Tin Lành và cứ hư mất trong tội lỗi. Tội nhân phải hiểu rằng nếu họ chối bỏ Đức Chúa Jêsus Christ và Tin Lành ân điển, họ phải đối mặt với mọi hậu quả của quyết định đó.
Nếu một người chối bỏ ơn cứu rỗi mà Đức Chúa Trời đã hiến cho qua Đức Chúa Jêsus Christ, chẳng còn có hy vọng cứu rỗi nào khác sẵn dành cho họ được, Hêbơrơ 2:3. Đức Chúa Jêsus Christ là CON ĐƯỜNG DUY NHỨT để đến với Đức Chúa Trời, Giăng 14:6; Công Vụ các Sứ Đồ 4:12. Chối bỏ Ngài là chối bỏ ơn tha thứ. Chối bỏ như thế là chối bỏ hy vọng. Chối bỏ như thế là chối bỏ ơn cứu rỗi. Chối bỏ như thế là chối bỏ Đức Chúa Trời, Đấng Christ và Đức Thánh Linh. Chối bỏ như thế là chối bỏ sự thánh khiết và vòng tay ôm lấy tội lỗi. Chối bỏ như thế là chối bỏ sự sống và nắm miết lấy sự chết. Chối bỏ như thế là chối bỏ Thiên đàng và ôm lấy Địa Ngục. Nếu bạn chối bỏ Đức Chúa Jêsus Christ và chối không tin theo đạo Tin Lành, bạn sẽ đi Địa Ngục, và bạn sẽ chẳng có ai để đổ thừa trừ ra chính mình bạn, Giăng 8:24; Matihơ 7:21-23; Khải huyền 20:11-15.
I. Đòi hỏi dành cho hạng thánh đồ
II. Trách nhiệm của tội nhân
III. CÔNG NHẬN CÁC THÁNH ĐỒ CỦA NGÀI (các câu 17-18)
+ Chúa Jêsus kết thúc lời lẽ của Ngài nói cùng các môn đồ bằng cách nói cho họ biết rằng các “dấu lạ” nầy sẽ đi theo các môn đồ thực. Cụm từ “các dấu lạ” có ý nói tới “một dấu hiệu; hay điều chi làm phân biệt”. Cụm từ nầy có ý nói rằng Đức Chúa Trời sẽ đặt một sự khác biệt giữa dân sự Ngài và người nào vẫn còn hư mất trong tội lỗi. Từ ngữ “được” có nghĩa là “đi kèm”. “Dấu lạ”, đánh dấu sự phân rẻ, hay minh chứng ơn cứu rỗi, sẽ “đi kèm” với đời sống của kẻ được chuộc.
+ Mấy câu nầy cũng bị hiểu sai bởi nhiều người mong muốn có điều gì khác hơn là đức tin đơn sơ nơi Chúa Jêsus. Có nhiều người muốn có một dấu lạ, một dấu cụ thể nào đó, cho thấy họ được cứu và quyền phép Đức Chúa Trời ở trên họ.
Từ hai câu nầy đã làm phát sinh nhiều phong trào và các sinh hoạt dị giáo. Nói tiếng lạ, bắt rắn trong tay, uống chất độc, đức tin chữa lành, một sự mê hoặc với ma quỉ, và các tư tưởng dị giáo khác nữa đã sinh ra vì hai câu nầy đã được rút ra khỏi văn mạch và được áp dụng không đúng.
+ Những hành động được mô tả trong hai câu nầy đề cập tới các biến cố đã diễn ra trong những ngày đầu tiên của Hội thánh. Khi Chúa Jêsus sai các môn đồ đi ra với Tin Lành ân điển, Ngài đã ban thẩm quyền cho sứ điệp của Ngài qua những sự tỏ ra lạ lùng về quyền phép của Ngài. Khi thời kỳ sứ đồ kết thúc, nhu cần về các phép lạ nầy đã kết thúc và chúng bị đình chỉ thôi không còn hoạt động nữa.
Tại sao chúng bị đình chỉ chứ? Tôi nghĩ câu trả lời được thấy có ở I Côrinhtô 13:8-11. Mấu câu nầy có ý nói tới “điều chi là trọn lành”. Bạn phải hiểu rằng Hội thánh đầu tiên không có bản tường trình trọn vẹn về Lời của Đức Chúa Trời cho con người. Trước khi kỷ nguyên sứ đồ kết thúc, Tân Ước đã được hoàn tất và con người có thể nắm bắt, và đọc từng lời của Đức Chúa Trời. Con người đã có sự mặc khải trọn vẹn của Lời Đức Chúa Trời cho nhân loại và chẳng còn cần tới các phép lạ để khẳng định sứ điệp nữa.
+ Cho phép tôi dành ra một phút để chỉ cho bạn thấy những gì tôi đã nói. Từng phép lạ được Chúa nhắc tới trong mấy câu nầy có thể được thấy trong sách Công Vụ các Sứ Đồ trừ ra một phép lạ. Hãy quan sát như sau:
+ Đuổi quỉ – Công Vụ các Sứ Đồ 8:7; 6:18; 19:11-16
+ Nói tiếng mới – Công Vụ các Sứ Đồ 2:4-11; 10:46; 19:6
+ Bắt rắn – Công Vụ các Sứ Đồ 28:5
+ Uống chất độc – Đây là vấn đề duy nhứt không được nhắc tới trong sách Công Vụ các Sứ Đồ. Một Giáo phụ Hội thánh đầu tiên có tên là Eusebius, nói rằng Joseph Barsabas, là người được chọn để chiếm lấy chỗ của Giuđa Íchrariốt, đã làm điều nầy trong suốt chức vụ của ông.
+ Đặt tay trên kẻ khác để được chữa lành – Công Vụ các Sứ Đồ 3:7; 19:11; 28:8-9
Nói khác đi, lời tiên tri nầy đã được ứng nghiệm trong Thế kỷ thứ nhứt, bởi các sứ đồ. Đức Chúa Trời đã làm nhiều phép lạ qua họ để chứng minh cho kẻ bị hư mất biết rằng Lời của Ngài là chơn thật.
+ Có nhiều phép lạ ngày nay không? Ngày nay có nhu cần về “các dấu lạ theo sau” không? Chúng ta có nên nói tiếng lạ, bắt rắn và uống chất độc để minh chứng rằng chúng ta đã được cứu không? Có phải đấy là cách Chúa đã chọn đến đến với người thế gian không?
Đức Chúa Trời đã chọn đến với thế gian qua việc giảng dạy, I Côrinhtô 1:21. Trong khi Đức Chúa Trời vẫn còn làm nhiều phép lạ và sai nhiều dấu lạ đến để khẳng định sứ điệp của Ngài, phép lạ lớn lao nhất trong thế gian ngày nay là đời sống của những người Ngài đã biến đổi qua quyền phép của sự tái sanh.
+ Ngài đã cứu và biệt riêng chúng ta ra. Ngài đã ban cho chúng ta “dấu lạ” của một đời mới, II Côrinhtô 5:17. Thế gian đã nhìn thấy các phép lạ của Sứ đồ trong Thế kỷ thứ nhứt rồi nhìn biết rằng sứ điệp đến từ Đức Chúa Trời. Thế gian nhìn thấy sự thánh khiết, đức tin và sự vâng lời đơn sơ nơi đời sống của người được chuộc và nhìn biết rằng sứ điệp đến từ Đức Chúa Trời. Vẫn có một dấu hiệu nơi những người đã được cứu bởi ân điển. Đấy chẳng phải là dấu hiệu của một dấu lạ nào. Đó là dấu hiệu của một đời sống được thay đổi! Chúa Jêsus hứa mặc lấy uy quyền cho những ai thuộc về Ngài. Ngài làm vậy bằng cách thay đổi đời sống của họ và tái tạo sự sống của Ngài bên trong họ, Galati 2:20; Rôma 4:29; Êphêsô 4:13-15.
Phần kết luận: Khi Chúa Jêsus sửa soạn về trời, tâm trí Ngài đã ở trên người của Ngài. Ngài muốn họ phải được sửa soạn cho thời buổi mà họ sẽ chịu trách nhiệm chia sẻ sứ điệp của Ngài với thế gian. Cũng vậy, Ngài đã ban cho họ Sứ Mệnh Cao Cả rồi sai họ đi ra để thuật lại cho thế gian biết về Ngài. Mọi tư tưởng sau cùng của Chúa chúng ta trong khi Ngài còn ở đây trên đất đều đặt vào Tin Lành ân điển.
Tin Lành vẫn là vấn đề rất quan trọng trong thế gian ngày nay. Bạn đã được Tin Lành chạm đến dù bạn có hiểu Tin Lành hay không! Thật vậy, ngày nay bạn đang đứng phía nầy với Tin Lành hay phía kia!?! Câu chuyện sau đây sẽ minh họa mọi điều mà tôi đã cố gắng trình bày:
Phần lớn chúng ta đều biết câu chuyện kể con tàu “R.M.S. Titanic”, con tàu được gán cho cái nhãn không thể bị đánh chìm, nó đã chìm vào ngày 14 tháng 4 năm 1912. Trong 2.223 người trên tàu chỉ có 706 người sống sót. Trong 1.523 người đã kết thúc trong làn nước băng giá ấy, chỉ có 6 người được cứu thoát.
Nhưng bạn biết không, một trong sáu người ấy đã được cứu hai lần trong đêm đó?
Câu chuyện của ông ta là một sự nhắc nhớ thật cảm động cho thấy có một thêm một người được cứu sống nữa.
Mặc dù vậy, khi kể lại câu chuyện của người nầy, trước tiên tôi phải nói cho bạn biết về một người khác, một nhà truyền đạo xứ Tô cách Lan có tên là John Harper. Harper đã lên tàu Titanic với Nana, cô con gái của ông mới có 6 tuổi. Ông dự tính đến với Hội thánh Moody tại Chicago, ông được mời đến đó để rao giảng trong ba tháng. Khi con tàu va phải tảng băng số phận kia rồi bắt đầu chìm xuống, Harper đã biết chắc con gái mình được đặt vào một trong mấy chiếc thuyền cứu hộ rồi. Khi ấy ông bắt đầu lo công việc truyền giảng cuối cùng trong cuộc đời trẻ trung của mình.
Khi làn nước băng giá bắt đầu phủ lấy con tàu, có người đã nghe Harper hô lên lớn tiếng: “Hãy để cho phụ nữ, trẻ em và người chưa được cứu vào mấy chiếc thuyền cứu hộ”. Những người sống sót đã thuật lại rằng Harper đã cởi chiếc áo cứu sinh của mình rồi trao nó cho một người khác. “Đừng lo cho tôi”, ông đã nói: “Tôi không bị chìm đâu, mà tôi được thăng lên kìa!”
Khi con tàu bắt đầu chìm xuống, hơn 1.523 hành khách đã nhảy xuống hoặc rơi vào làn nước băng giá kia. Khi họ dần dần chìm xuống hay bị lạnh mà chết, người ta nhìn thấy Harper lội từ chỗ người nầy sang người kia, nài nĩ họ hãy tiếp nhận Đấng Christ.
Chỉ có 6 trong số 1.523 người đang vật vã với làn nước kia sau cùng đã được cứu, kể cả người về sau tự nhận mình là người nhờ Harper mà trở lại đạo lúc sau cùng hết. Chàng thanh niên nầy đã trèo lên một tấm ván. Harper, ông đã phấn đấu trong làn nước ở gần người nầy, miệng hô lớn: “Anh đã được cứu chưa?”
Người kia đáp: “Chưa”.
Khi ấy, Harper hô lớn lời lẽ trích từ Kinh thánh: “Hãy tin Đức Chúa Jêsus Christ thì anh sẽ được cứu”. Người nọ không trả lời, và một phút sau người trôi đi theo dòng nước.
Vài phút sau đó, dòng nước đưa hai người trở lại với nhau. Một lần nữa, Harper hỏi: “Anh được cứu chưa?”
Một lần nữa, câu trả lời là “Chưa”.
Với hơi thở sau cùng, Harper hô to lên: “Hãy tin Đức Chúa Jêsus Christ thì anh sẽ được cứu”. Khi ấy, ông chìm hẳn xuống làn nước lần cuối cùng.
Khi ấy và ở đó, người đã chứng kiến kia bèn quyết định xây đời sống của mình về với Đấng Christ. Bốn năm sau, ở lần gặp gỡ của những kẻ sống sót của chiếc tàu Titanic ở Ontario, Canada, người nầy đẩm nước mắt đưa ra lời làm chứng của mình kể lại thể nào John Harper đã đưa dẫn ông đến với Chúa.
Tôi không cần phải nói, vì bạn biết câu chuyện rất cảm động nầy chưa hề được đưa vào điện ảnh. Chúng ta đang sống trong một xã hội dường như chỉ biết nhắm vào những câu chuyện lãng mạn, tình dục bất hợp pháp, và món nữ trang vô giá hơn là sự lãng mạn chơn thật giữa Đức Chúa Trời và dân sự của Ngài.
Từng người một trong phòng nhóm nầy, một là giống như John Harper hay là người mà ông đã làm chứng cho. Chúng ta một là đem Tin Lành đến cho thế gian, hoặc chúng ta đang bám víu vào cuộc sống rồi cần có ai đó đem Tin Lành đến cho chúng ta.
Nếu bạn đã được cứu, Lời Lẽ Giả Biệt của Chúa là một lời kêu gọi dành cho bạn hãy bận rộn vì Ngài đi. Thế gian đang hư mất và chính bổn phận của chúng ta là phải đem Tin Lành đến với họ. Bạn có làm điều đó chưa?
Nếu bạn đang bị hư mất, chính bổn phận của bạn là phải tiếp nhập Tin Lành? Bạn có muốn làm như thế hôm nay không? Nếu bạn chịu đến với Ngài, Ngài sẽ cứu lấy linh hồn của bạn đấy!
Nếu Đức Chúa Trời đã phán với tấm lòng của bạn dù là ở cấp độ nào, bạn cần phải làm theo những gì Ngài muốn bạn phải làm ngay hôm nay!

Thứ Năm, 6 tháng 1, 2011

Mác 16:9-14: "CHỨC VỤ CỦA SỰ SỐNG LẠI"



Mác 16:9-14
CHỨC VỤ CỦA SỰ SỐNG LẠI
Chúng ta đang ở gần đoạn cuối cuộc hành trình qua sách Tin Lành Mác. Hôm nay, chúng ta bắt đầu nhìn vào 12 câu cuối của quyển sách năng động, tuyệt vời nầy. Những câu chúng ta nghiên cứu hôm nay, và qua mấy tuần lễ tới đây, là những câu miệt mài trong sự tranh luận.
Nhiều học giả Kinh Thánh không tin những câu nầy thực sự do Mác viết ra. Họ tin chúng được thêm vào bởi một tác giả nào đó. Lý do họ tin như vậy là vì ngôn ngữ được sử dụng trong mấy câu nầy rất khác biệt với ngôn ngữ đã được dùng trong phần còn lại của sách Tin Lành Mác. Ba bản văn xưa nhất hiện có không có mấy câu nầy. Nói như thế, tôi tin mấy câu nầy đã có ngay tại vị của chúng!
Các Giáo phụ của Hội thánh đầu tiên nhắc tới chúng có mặt trong sách Mác nhằm vào cuối thế kỷ thứ nhứt. Tôi tin rằng Thánh Linh của Đức Chúa Trời đã bảo tồn cho chúng thật chính xác những gì chúng ta đang có đây. Tôi không muốn nói cho bạn biết điều nầy hầu khiến cho bạn phải hồ nghi những gì chúng ta đang có trong quyển Kinh Thánh. Tôi chia sẻ điều nầy vì bạn sẽ đọc trong sách chú giải hay quyển sách nào mà mấy câu nầy không có mặt ở đó. Phải, chúng có mặt ở đó! Nếu chúng không được dự trù có mặt ở đây, Đức Chúa Trời sẽ không bảo tồn chúng cho chúng ta đâu. Với điều đó trong trí, chúng ta hãy bắt đầu phần nghiên cứu mấy câu nầy hôm nay.
Phần giới thiệu: Ngày Chúa Jêsus sống lại từ kẻ chết đã gây xôn xao trong sinh hoạt. Từ sáng sớm cho đến chiều tối, Chúa Jêsus đã năng động phục vụ cho các môn đồ Ngài. Ngài muốn họ nhận biết rằng Ngài hiện vẫn còn sống. Ngài muốn họ phải nhìn biết rằng sự sống lại là một thực tại. Trong ngày phục sinh đầu tiên đó, Chúa Jêsus đã sử dụng thì giờ của Ngài để phục vụ cho những người mà Ngài quan tâm nhiều nhất. Ngài đã dành thì giờ để phục vụ cho những người mang lấy phần việc phục vụ cho nhiều người khác. Ngài muốn những người nầy trước hết họ sẽ kêu gọi nhiều người khác tin theo Ngài. Vì vậy, Ngài để cả ngày ra gây dựng đức tin trong tấm lòng của những người rất quan trọng nhất đối với Ngài.
Tôi muốn chúng ta hãy nhìn vào các biến cố của ngày phục sinh thứ nhứt ấy. Tôi muốn đi theo Chúa Jêsus từ khải thị nầy sang mặc khải kia. Tôi muốn bạn nhìn thấy sự sống lại của Ngài có một chức vụ gồm ba phần trong ngày ấy. Có Chức Vụ Yên Ủi; Chức Vụ Khẳng Định và trước hết Chức Vụ Đối Mặt. Các chức vụ khác nhau nầy đã được định để gây dựng đức tin nơi những ai chịu đi theo Chúa Jêsus. Sứ điệp nói tới sự sống lại từ kẻ chết của Đức Chúa Jêsus Christ vẫn thi hành chính chức vụ ấy hôm nay.
Chúng ta hãy bước theo Chúa Jêsus từ lần xuất hiện hôm sau ngày phục sinh ấy. Tôi muốn rao giảng về Chức Vụ Của Sự Sống Lại. Tôi muốn bạn nhìn thấy sự sống lại của Ngài vẫn còn có ý nghĩa cho bạn ngày hôm nay. Nguyện sự sống lại của Ngài phục vụ cho tấm lòng của bạn hôm nay!
I. CHỨC VỤ YÊN ỦI (các câu 9-11)
+ Nếu chúng ta muốn có một sự hiểu biết đầy đủ về các biến cố trong ngày phục sinh, chúng ta phải nhìn vào các câu chuyện của tất cả bốn trước giả các sách Tin Lành. Mỗi trước giả cung ứng các chi tiết khác nhau về buổi sáng kỳ diệu ấy. Họ không mâu thuẫn với nhau, họ chỉ uốn nắn các chi tiết khác nhau về các biến cố của buổi sáng hôm đó. Chúng ta hãy dành một phút để hiểu rõ chuỗi biến cố đã xảy ra trong ngày Chúa Jêsus sống lại từ kẻ chết.
+ Mấy người đàn bà đến mộ lúc sáng sớm – Mathiơ 28:1; Mác 16:2-3; Luca 24:1, 22; Giăng 20:1
+ Một thiên sứ lăn hòn đá chặn cửa mộ – Mathiơ 28:2-3
+ Lính canh Lamã hoảng sợ rồi bỏ trốn – Mathiơ 28:4; 11-15
+ Mấy người đàn bà đến tại mộ, thấy mộ mở toang và trống trơn – Mathiơ 28:1; Mác 16:4; Luca 24:2-3, 23; Giăng 20:1
+ Hai thiên sứ hiện ra với mấy người đàn bà bên trong mộ. Họ báo cho mấy người đàn bà biết rằng Chúa Jêsus đang sống và hãy đi nói cho các môn đồ biết – Mathiơ 28:5-7; Mác 16:5-7; Luca 24:4-8; 23
+ Mấy người đàn bà đi nói cho các môn đồ biết, họ không tin vào tường trình của mấy người đàn bà nầy Mathiơ 28:8; Mác 16:8; Luca 24:9-11
+ Phierơ và Giăng chạy ra mộ, thấy mộ trống trơn rồi trở về nhà – Luca 24:12, 24; Giăng 20:3-10
+ Mary Mađờlen trở lại mộ. Nàng cứ ở đó kêu khóc thì nhìn thấy một thiên sứ, và lúc đó nàng nhìn thấy Cứu Chúa phục sinh – Mác 16:9; Giăng 20:11-17
+ Điều đó đưa chúng ta trở lại với phân đoạn Kinh Thánh gốc hôm nay. Mác cho chúng ta biết “Ngài trước hết hiện ra cho Mary Mađờlen”. Từ ngữ “trước hết” có ý nói rằng “vinh dự, đầu hết”. Trong tất cả những người Chúa Jêsus đã tỏ chính mình Ngài ra vào buổi sáng hôm ấy, Ngài đã chọn tỏ ra cùng Mary.
Bạn nghĩ tại sao Ngài lại làm như thế không? Bạn nghĩ tại sao Chúa Jêsus lại chọn Mary là người đầu tiên nhìn thấy Ngài không? Tôi muốn đưa ra một vài lý do, nếu tôi có thể.
+ Mác nhắc cho chúng ta nhớ đến Mary là loại người như thế nào khi nàng gặp Chúa Jêsus. Ông nói cho chúng ta biết rằng Chúa Jêsus đã đuổi bảy con quỉ ra khỏi Mary khi Ngài gặp nàng. Nàng là một phụ nữ bị nhiều quỉ ám. Nàng bị bẫy trong loại nô lệ tồi tệ nhất. Nàng là một tù nhân của Satan. Nàng đã ở trong cái nắm thật chặt của ma quỉ. Có lẽ nàng đã sống một đời sống thật gian ác, dâng mình cho từng loại tội lỗi và giác ác có thể tưởng tượng được.
Thế rồi một ngày kia, nàng đã gặp một người có tên là Jêsus. Ngài phán cùng nàng rồi buông tha cho nàng. Ngài đã thay đổi đời sống của nàng! Từ giờ phút ấy trở đi, nàng đã đi theo Ngài vì nàng đã yêu. Nàng yêu mến Ngài vì mọi sự Ngài đã làm trong đời sống của nàng. Nàng đã được giải phóng ra khỏi vòng nô lệ của tội lỗi và nàng đã yêu mến Ngài vì cớ đó! Tình yêu của nàng dành cho Chúa Jêsus tự nó tỏ ra trong sự tôn kính tuyệt đối dành cho Ngài. Nàng yêu mến Chúa Jêsus và Ngài đã tôn cao tình yêu của nàng dành cho Ngài bằng cách khiến nàng trở thành người đầu tiên nhìn thấy Ngài đã sống lại từ kẻ chết!
Đồng thời, người nào được tha tội nhiều nhất, đổi lại dường như họ yêu mến Ngài nhiều nhất, Minh họa: Luca 7:36-50. Có một số người ở đây hôm nay đã chìm sâu dưới đáy của tội lỗi. Chúa đã tìm thấy bạn và đã cứu bạn ra khỏi tội lỗi sâu đậm tăm tối kia. Ngài đã thay đổi đời sống của bạn một cách đột ngột và bạn yêu mến Ngài vì cớ đó. Tình yêu ấy tự nó tỏ ra trong những phương thức đôi khi khác biệt với những người không ở trong tình trạng gian ác như thế.
Đừng cau mày nới một anh chị em nào muốn cảm tạ Chúa vì ân điển rời rộng của Ngài trong đời sống của họ! Họ có nhiều điều phải cảm tạ và họ có quyền tỏ ra sự biết ơn ấy. Tất nhiên, cần phải tốn nhiều máu để cứu bạn trong Lớp Trường Chúa nhật cũng như đã cứu họ trong chỗ bùn lầy nước đọng kia!
+ Lý do đơn giản khác cho thấy tại sao Mary muốn nhìn thấy Chúa Jêsus trước tiên, vì nàng là người duy nhứt có mặt ở ngôi mộ. Không một môn đồ nào có mặt ở đó. Mẹ của Chúa và các em kế của Ngài không có mặt ở đó. Mỗi một mình nàng có mặt ở đó và nàng đã nhận được ơn phước đặc biệt ấy!
Cách đây 3.500 năm, Đức Chúa Trời đã kêu gọi Môise lên trên núi. Trên hòn núi ấy, Đức Chúa Trời đã phán điều nầy với Môise: “Đức Giê-hô-va lại phán: Đây có một chỗ gần ta, ngươi hãy đứng trên hòn đá; khi sự vinh hiển ta đi ngang qua, ta sẽ để ngươi trong bộng đá, lấy tay ta che ngươi, cho đến chừng nào ta đã đi qua rồi. Ta sẽ rút tay lại, và ngươi thấy phía sau ta; nhưng thấy mặt ta chẳng được” Xuất Êdíptô ký 33:21-23.
Môise đã có mặt ở bộng đá ấy, đứng trên đá, bên cạnh Vầng Đá, trong khi Vầng Đá che mặt ông lại rồi Vầng Đá đi ngang qua. Ông đã ở trong một chỗ gần gũi và phước hạnh rất lớn!
Nơi ấy vẫn còn đó! Bạn có thể ở gần với Chúa y như bạn ao ước vậy, Giacơ 4:8. Bạn vẫn có thể đồng đi với Ngài vào cuối ngày giống như Ađam vậy. Bạn vẫn có thể tựa đầu mình vào ngực Ngài giống như Giăng đã từng trên phòng cao kia. Bạn vẫn có thể thưởng thức mối tương giao tuyệt vời với Ngày bất cứ lúc nào, trọn thời gian nữa kìa. Ngài đang gõ cửa và đang tìm kiếm ai đó để ăn tối với. Có thể là bạn lắm đấy! (Minh họa: Khải huyền 3:20)
+ Chúa hiện ra cùng Mary để yên ủi tấm lòng tan nát của nàng. Đây là chức vụ yêu thương và ân điển nơi phần của Ngài để giúp một thánh đồ bị tổn thương vượt qua thời điểm nhức cả đầu. Mary đi thuật lại cùng các môn đồ biết rằng nàng đã gặp Chúa phục sinh, và họ từ chối không tin nàng, các câu 10-11.
Tất nhiên, sự vô tín của họ không làm thay đổi được kinh nghiệm của nàng! Nàng đã nhìn thấy Chúa và không một điều gì có thể thay đổi được sự ấy!
Minh họa: Đừng để cho số người thủ cựu tự mãn kia cướp lấy niềm vui của bạn nơi Chúa. Bạn biết rõ mọi điều Ngài đã làm cho bạn mà! Bạn biết rõ về cái chạm, quyền phép và sự vinh hiển của Ngài! Hãy vui mừng trong những gì Ngài đã làm cho bạn và đừng để mấy kẻ phá đám kia rút mất sự sống thuộc linh ra khỏi bạn!
I. Chức vụ yên ủi
II. CHỨC VỤ KHẲNG ĐỊNH (các câu 12-13)
+ Trong mấy câu nầy, Mác tóm tắt các biến cố ở Luca 24:13-35. Chúa Jêsus đã hiện ra với hai môn đồ khi họ đi từ thành Jerusalem về làng Emmaút. Một trong hai môn đồ nầy có tên là Cơ-lê-ô-ba, người kia có lẽ là vợ của ông. Khi họ đi đường, Chúa Jêsus đến một bên rồi bắt đầu cùng đi với họ. Ngài giấu lai lịch Ngài khỏi họ và cùng trao đổi với họ.
Khi họ bước đi, họ đã nói về các biến cố của mấy ngày qua. Họ đã nói về sự Chúa Jêsus bị đóng đinh trên thập tự giá. Họ nói về sự thực ngôi mộ trống và một số nữ môn đồ của Chúa Jêsus cho rằng đã nhìn thấy các thiên sứ đến bảo họ là Chúa Jêsus còn sống.
Khi ấy, Chúa Jêsus mới mở Kinh Thánh ra rồi giảng giải cho họ về tất cả những việc mà Đấng Mêsi phải chịu đựng khi Ngài ngự đến. Ngài đã mở sách luật cùng các sách tiên tri ra rồi bày tỏ mọi sự mà Kinh Thánh rao báo về Ngài. Tôi rất muốn nghe bài giảng ấy lắm!
Khi các lữ khách về đến nhà của họ, họ đã mời vị khách nầy cùng vào. Họ ngồi xuống cùng dùng bữa với nhau. Họ đã trao bánh cho vị khách nầy, Ngài cầm lấy, chúc phước rồi Ngài bẻ bánh ra. Khi Ngài làm thế, mắt họ được mở ra và họ nhìn thấy người bạn đường của họ thực sự là ai. Chúa Jêsus ngay khi ấy biến mất khỏi tầm nhìn của họ.
+ Hai vợ chồng nầy ngay lập tức chỗi dậy khỏi bàn rồi đi ngược về thành Jerusalem. Họ mới vừa thực hiện chuyến hành trình 7 dặm rời khỏi thành phố, giờ đây họ đi ngược lại một lần nữa với những tin tức tốt lành nói rằng Chúa Jêsus quả thực đã sống lại từ kẻ chết. Tất nhiên, câu 13 cho chúng ta biết rằng các môn đồ cũng không tin theo họ!
+ Chức vụ của Chúa nơi đời sống của cặp vợ chồng nầy là chức vụ khẳng định. Họ đang nói về những dấu lạ phép kỳ, cùng chứng cớ đồn đãi. Chúa Jêsus đưa họ trở lại với Lời của Đức Chúa Trời, Luca 24:25-27. Khi sử dụng Ngôi Lời, Ngài đã khẳng định sứ mệnh của Đấng Mêsi.
+ Bất cứ ai sống trong thời buổi ấy đều muốn nhìn thấy các phép lạ. Họ thích nhìn thấy các thiên sứ, ngôi mộ trống, hòn đá lăn ra khỏi đó và Cứu Chúa phục sinh cùng đồng đi và trò chuyện với họ. Có phải bạn biết họ chẳng cần điều chi trong các thứ ấy để tin rằng Chúa Jêsus sẽ sống lại từ kẻ chết không?
Họ đã ra tới mộ vào sáng hôm ấy với lòng trông mong Ngài hiện đang sống. Họ đã đi, không phải tìm kiếm một thi thể đã chết, mà tìm kiếm một Chúa hằng sống. Họ đã đi ra đó đặng vui mừng và không còn khóc lóc nữa. Tại sao chứ? Chúa Jêsus đã nói cho họ biết chính xác điều chi sẽ xảy ra rồi, nhưng không ai trong số họ chịu tin theo Ngài cả. Khi Ngài đã sống lại từ kẻ chết, Ngài chỉ làm những gì Ngài đã nói với họ Ngài sẽ làm mà thôi.
+ Mathiơ 16:21: “Từ đó, Đức Chúa Jêsus mới tỏ cho môn đồ biết rằng mình phải đi đến thành Giêrusalem, phải chịu tại đó nhiều sự khốn khổ bởi những người trưởng lão, thầy tế lễ cả, cùng thầy thông giáo, và phải bị giết, đến ngày thứ ba phải sống lại”.
+ Mathiơ 17:22-23: “Đang khi Đức Chúa Jêsus và môn đồ trải qua trong xứ Ga-li-lê, Ngài phán cùng môn đồ rằng: Con người sẽ bị nộp trong tay người ta. Họ sẽ giết Ngài, nhưng đến ngày thứ ba Ngài sẽ sống lại. Các môn đồ bèn lo buồn lắm”.
+ Mathiơ 20:17-19: “Trong khi Đức Chúa Jêsus đi lên thành Giê-ru-sa-lem, Ngài đem riêng theo mười hai môn đồ, dọc đường, phán cùng họ rằng: Nầy, chúng ta đi lên thành Giê-ru-sa-lem, và Con người sẽ bị bắt nộp cho các thầy tế lễ cả và các thầy thông giáo, bọn đó sẽ luận giết Ngài. Họ sẽ nộp Ngài cho dân ngoại hầu để nhạo báng, đánh đập, và đóng đinh trên cây thập tự; đến ngày thứ ba, Ngài sẽ sống lại”.
+ Đúng là một bài học như thế cho chúng ta ngày nay. Một số người trong các bạn phải chờ đợi kinh nghiệm nơi con “đường đến thành Đamách” trước khi bạn đến với Chúa Jêsus. Phải, có lẽ bạn không chịu như thế! Ngài đã phán rồi với bạn trong Lời của Ngài những gì Ngài cần phải làm. Nếu tôi là bạn, tôi sẽ ấp ủ Lời của Ngài và vâng theo tiếng phán của Ngài. Ngài đang phán cùng bạn đấy. Hãy nghe theo Ngài và đến với Ngài ngay bây giờ đi. Đây là những gì Ngài phán dạy:
+ Mathiơ 11:28: “Hỡi những kẻ mệt mỏi và gánh nặng, hãy đến cùng ta, ta sẽ cho các ngươi được yên nghỉ”.
+ Công Vụ các Sứ Đồ 16:31: “Hai người trả lời rằng: Hãy tin Đức Chúa Jêsus, thì ngươi và cả nhà đều sẽ được cứu rỗi”.
+ Rôma 10:9-10: “Vậy nếu miệng ngươi xưng Đức Chúa Jêsus ra và lòng ngươi tin rằng Đức Chúa Trời đã khiến Ngài từ kẻ chết sống lại, thì ngươi sẽ được cứu; vì tin bởi trong lòng mà được sự công bình, còn bởi miệng làm chứng mà được sự cứu rỗi”.
+ Giăng 8:24: “Nên ta đã bảo rằng các ngươi sẽ chết trong tội lỗi mình; vì nếu các ngươi chẳng tin ta là Đấng đó, thì chắc sẽ chết trong tội lỗi các ngươi”.
+ Luca 13:3: “Ta nói cùng các ngươi, không phải; song nếu các ngươi chẳng ăn năn, thì hết thảy sẽ bị hư mất như vậy”.
+ Hêbơrơ 2:3: “mà nếu ta còn trễ nải sự cứu rỗi lớn dường ấy, thì làm sao tránh cho khỏi được? -là sự cứu rỗi Chúa truyền ra trước hết, rồi có những kẻ nghe chứng nghiệm nó cho chúng ta”.
+ Đấy là Lời của Chúa. Đấy là ý chỉ của Chúa. Bạn sẽ làm gì với Lời ấy?
I. Chức vụ yên ủi
II. Chức vụ khẳng định
III. CHỨC VỤ ĐỐI MẶT (câu 14)
+ Vào cuối ngày ấy, Chúa Jêsus đã hiện ra với các môn đồ Ngài khi họ đang ăn tối. Luca 24:36 cho chúng ta biết rằng Chúa Jêsus xuất hiện ở giữa họ khi họ tiếp nhận tường trình nói về sự hiện ra phục sinh của Ngài do hai môn đồ trở về từ làng Emmaút. Giăng 20:19 cho chúng ta biết rằng các môn đồ đã đóng kín cửa trên phòng cao vì họ sợ người Do thái. Rõ ràng Chúa Jêsus có khả năng đi xuyên qua các bức tường của căn phòng nơi họ đang ở đó. Ngài hiện ra trong sự hiện diện của họ rất cụ thể. Giăng 20:20 cho chúng ta biết rằng “Ngài giơ tay và sườn mình cho môn đồ xem”. Khi Chúa Jêsus làm điều nầy, “các môn đồ vừa thấy Chúa thì đầy sự mừng rỡ”.
+ Mác cho chúng ta biết rằng Ngài “quở trách về sự không tin và lòng cứng cỏi, vì chẳng tin những kẻ từng thấy Ngài đã sống lại”. Cụm từ “quở trách” là một từ ngữ rất mạnh. Nó có ý nói rằng Ngài “đã đưa họ thẳng đến sự việc” họ chối bỏ không tin các tường trình của những người đã nhìn thấy Ngài vẫn còn sống. Đúng ra, Chúa Jêsus đã trách nặng về sự họ chối không chịu tin những chứng nhân đã chứng kiến sự sống lại của Ngài.
+ Tại sao điều nầy lại quan trọng như thế. Chúa Jêsus muốn số người nầy phải bởi đức tin tiếp nhận sứ điệp nói tới sự sống lại. Họ từ chối không tin Lời của Ngài, thậm chí khi Ngài nói cho họ biết Ngài sẽ sống lại từ kẻ chết. Họ đã từ chối không tin sự làm chứng tận mắt của số người đã nhìn thấy Chúa phục sinh. Họ đã chối không chịu tin bằng chứng mấy người kia đã nhìn thấy tận mắt mình, Giăng 20:1-10. Nếu tất cả họ có bằng chứng như thế nầy mà vẫn từ chối không chịu tin, làm sao họ có thể trông mong người ta tin theo họ khi họ rao giảng về sự sống lại chứ?
Chúa Jêsus biết rõ rằng nhóm người nầy đã ở trong một tình trạng thật đặc biệt. Họ có thể đi đến ngôi mộ trống. Họ có thể trò chuyện với Chúa phục sinh. Họ có thể nhìn thấy và rờ đụng đến Ngài. Chúa Jêsus biết rõ Ngài sẽ về Trời. Ngài biết rõ số người nầy sẽ được kêu gọi đi rao giảng về sự sống lại mà chẳng cần một mẫu nhỏ chứng cớ thuộc thể nào cho sự rao giảng của họ. Chúa Jêsus biết rõ rằng thế hệ Cơ đốc nhân kế tiếp, những người sẽ được cứu qua sự rao giảng của các Sứ đồ, sẽ chẳng có lợi thế về mọi bằng chứng mà số người nầy đã có. Họ cần phải tin những gì Đức Chúa Trời đã phán với mọi sự tin quyết trong linh hồn họ. Họ sẽ cần đến sự tin quyết ấy để rao giảng sự sống lại trong quyền phép của Ngài vì sự vinh hiển của Ngài.
+ Các tín đồ đầu tiên đã sống trong thời buổi khi có nhiều người đã đích thân nhìn thấy Cứu Chúa phục sinh, I Côrinhtô 15:3-8. Họ đã tận mắt chứng kiến. Chúng ta sống cách các biến cố ngày ấy những 2.000 năm. Chúng ta không thể nhìn thấy ngôi mộ hay tấm khăn liệm. Chúng ta không thể đi gặp rồi trò chuyện với Phierơ hay Mary Mađờlen rồi hỏi thăm họ về mọi sự mà họ đã trông thấy. Chúng ta phải tiếp nhận sứ điệp bởi đức tin. Chúng ta phải tin rằng Chúa Jêsus đã chịu chết và đã sống lại từ kẻ chết chỉ vì Lời Đức Chúa Trời phán như thế!
+ Điều đó rất khó đối với một số người. Trong khi tôi không thể nhìn thấy ngôi mộ, vải liệm hay Cứu Chúa phục sinh, tôi đang nhìn thấy bằng chứng mọi sự ở quanh tôi. Tôi nhìn thấy đời sống của những người Ngài đã thay đổi bởi quyền phép của Ngài, II Côrinhtô 5:17. Giống như những người kia bị rắn cắn và được chữa lành bằng cách nhìn vào con rắn bằng đồng trên trên cây cột nọ, Dân số ký 21, tôi nhìn thấy con người ở chung quanh tôi, họ bị cắn bởi con rắn tội lỗi. Sự tiêm nhiễm của nó rất rõ ràng trong đời sống của bạn. Bạn là một người đang chết còn bước đi kìa, Êphêsô 2:1-3. Thế rồi, bởi đức tin bạn nhìn vào cây thập tự cũ xì kia, Chúa Jêsus đã gục chết ở đó vì tội lỗi của bạn đấy. Rồi bạn nhìn thấy chính Cứu Chúa ấy vẫn hằng sống, đã chinh phục sự chết rồi bước ra khỏi ngôi mộ kia. Bạn tin theo sứ điệp và bạn được thay đổi. Tôi có bằng chứng ngay trước mặt tôi! Tôi nhìn thấy bằng chứng ấy là đời sống của bạn. Tôi nhìn thấy bằng chứng ấy là đời sống của tôi. Tôi nhìn thấy bằng chứng đó và tôi tin!
Tôi không cần phải đi đến thành Jerusalem và nhìn vào ngôi mộ mới biết rằng Chúa Jêsus vẫn còn sống đâu. Tôi chẳng cần nhìn đâu xa hơn những người ở quanh tôi, họ đã được thay đổi bởi quyền phép của Ngài để nhìn biết Ngài thực hằng sống.
Bạn hư mất của tôi ơi, tôi thách bạn tin theo hôm nay đấy! Đừng sống một ngày nào khác trong tình trạng hư mất của mình. Hãy đến với Chúa Jêsus! Hãy đến ngay hôm nay và được cứu bởi ân điển của Ngài!
+ Tất nhiên, các môn đồ không bao giờ chịu tin cho tới khi Chúa Jêsus đến với họ rồi tỏ cho họ thấy Ngài vẫn sống, câu 14; Giăng 20:20. Khi họ đích thân nhìn thấy Ngài, họ rất đỗi vui mừng. Khi họ đích thân nhìn thấy Ngài, họ đã tin Ngài đã sống lại từ kẻ chết.
Sự thực là, tội nhân hư mất đã chết, Êphêsô 2:1. Người không thể và sẽ không tin cho tới chừng người được kêu gọi ra khỏi sự chết bởi tiếng phán của Chúa Jêsus, Giăng 6:44. Tội nhân hư mất giống như Laxarơ trong ngôi mộ kia. Ông hoàn toàn không biết gì về sự hiện diện của một Chúa hằng sống cho tới chừng Chúa Jêsus đến trước mộ của ông và gọi tên ông. Khi ông nghe tiếng phán ấy, ông có thể đáp lại bằng đức tin và ông có thể được cứu. Có phải Ngài đang kêu gọi bạn không? Nếu Ngài đang kêu gọi, bạn cần phải đến với Ngài hôm nay. Bạn cần phải đến ngay bây giờ đấy!
Phần kết luận: Chức vụ quan trọng nhất của sự sống lại của Chúa Jêsus, ấy là chức vụ ấy làm thay đổi từng đời sống nào vòng tay ôm lấy nó như là chân lý vậy. Bạn không thể nhìn biết Ngài và quyền phép sự sống lại của Ngài mà cứ vẫn y nguyên như thế được. Bạn sẽ sống khác biệt đấy!
Nếu bạn chưa từng được cứu, bạn cần phải đến với Chúa Jêsus ngay hôm nay. Đừng chậm trễ nữa, đừng chờ đợi thời điểm nào tốt hơn. Đừng động đến những gì bạn biết bạn cần phải làm. Đừng trì trệ nữ mà hãy đến với Chúa Jêsus ngay bây giờ đi. Hãy chỗi dậy ra khỏi ngai của bạn mà đến với Chúa Jêsus!
Nếu bạn đã được cứu rồi, bạn cần phải sống giống như thế. Nói như thế có nghĩa là sống thánh khiết đấy. Nói như thế có nghĩa là sống trung tín. Nói như thế có nghĩa là sống trong địa vị thờ phượng của bạn đấy. Nói như thế có nghĩa là sống cho Chúa mỗi ngày. Nói như thế có nghĩa là đến trước mặt Ngài dâng lên lời cảm tạ và ngợi khen Ngài vì những gì Ngài đã làm trong đời sống của bạn.
Có phải Ngài đã phán với bạn hôm nay không? Có phải bạn cần đến với Chúa Jêsus vì bất kỳ mục đích nào đó không? Có phải bạn cần được cứu không? Có phải bạn cần phải ăn năn tội lỗi của mình không? Có phải bạn cần phải cảm tạ Ngài vì ân điển của Ngài trong đời sống của bạn không? Nếu Ngài đã phán với tấm lòng của bạn, bạn cần phải vâng theo tiếng của Ngài.

Thứ Tư, 5 tháng 1, 2011

Mác 16:1-8: "NGÀY TẠO NÊN SỰ KHÁC BIỆT"



Mác 16:1-8
NGÀY TẠO NÊN SỰ KHÁC BIỆT
Phần giới thiệu
: Tôi luôn lấy làm lạ, sao cuộc sống lại thay đổi nhanh như thế! Có nhiều thứ ngày hôm nay như thế nầy, qua ngày sau thì chúng hoàn toàn khác hết. Ngày nay thì hai vợ chồng có mặt ở đây, qua ngày sau thì họ đã chia tay rồi. Ngày nay bạn nghĩ mình chẳng sao hết, qua ngày sau thì bạn khám phá ra mình có bịnh nặng. Ngày nay mọi sự trong đời sống của bạn rất suông sẻ, qua ngày sau mọi sự chẳng còn là gì cả. Ngày hôm nay rõ ràng chẳng có hy vọng gì cho hoàn cảnh của bạn, qua ngày sau thì nan đề của bạn đã được quyết toán. Sự thực cho thấy nhiều đổi thay có thể diễn ra chỉ trong một ngày mà thôi.
Một ngày tạo ra sự khác biệt, thực như thế! Như thế còn chưa thực cho bằng ngày Chúa Jêsus sống lại từ kẻ chết nữa. Khi thi thể của Chúa Jêsus được đem đặt vào ngôi mộ bởi Giôsép người Arimathê và Nicôđem trong ngày Ngài bị đóng đinh trên thập tự giá, đó là một ngày tối tăm và kinh khiếp. Giống như mặt trời lặn xuống trong đêm đó, cũng một thể ấy cho mọi ước mơ của các môn đồ cùng những kẻ đi theo Chúa.
Mác là tác giả sách Tin Lành duy nhứt nói tới ngày sabát tối tăm, thê lương đã có giữa ngày Chúa Jêsus chịu chết và ngày Ngài sống lại từ kẻ chết. Tôi dám chắc đây là một ngày thật dài, thật tội nghiệp cho tất cả những ai yêu mến và đi theo Chúa Jêsus.
Thế nhưng, đúng là sự khác biệt mà một ngày có thể tạo ra! Mác đưa chúng ta qua ngày thứ Bảy thê thảm ấy đến ngày Chúa nhật vinh hiển, khi ấy thế gian được thay đổi cho đến đời đời.
Tôi muốn chúng ta nhìn vào các biến cố trong ngày đầu tiên của Chúa đó, ngày mà Chúa Jêsus sống lại từ kẻ chết. Tại sao ngày ấy lại quan trọng như thế chứ? Ngày ấy là quan trọng vì các biến cố trong ngày ấy đã tạo ra một sự khác biệt trong từng ngày đã và sẽ nối theo sau ngày ấy. Ngày ấy tạo ra một sự khác biệt vì những gì đã xảy ra trong ngày ấy có ảnh hưởng trên nhiều người trong phòng nhóm nầy. Ngày ấy là quan trọng vì những điều đã xảy ra trong ngày ấy có thể tạo ra một sự khác biệt trong đời sống của bạn hôm nay.
Chúng ta hãy nhìn vào các biến cố đã xảy ra tại ngôi mộ kia ở ngoài thành Jerusalem vào buổi sáng Đức Chúa Jêsus Christ sống lại từ kẻ chết. Tôi muốn rao giảng về tư tưởng: Một Ngày Tạo Ra Sự Khác Biệt. Tôi muốn ngày ấy tạo ra một sự khác biệt trong đời sống của bạn!
I. CHỨC VỤ YÊU THƯƠNG (các câu 1-3)
A. Mong ước của họ (câu 1) – Ba người đàn bà được nhắc tới trong mấy câu nầy, họ đã tuân giữ ngày sabát tối tăm, thật dài. Họ đã nghỉ ngơi ở nhà như đã được luật pháp dạy dỗ. Ngày trước đó, họ đã chứng kiến cái chết của Chúa Jêsus. Họ đã chứng kiến khi thi thể của Ngài được đem đặt vào trong mộ địa và hòn đá đã được lăn chặn lối vào mộ có thi thể của Ngài ở bên trong, Mác 15:46-47. Khi mặt trời lặn, ngày sabát bắt đầu, mấy người đàn bà nầy trở về nhà họ để chờ đợi.
Khi ngày sabát kết thúc, vào ngày thứ Bảy lúc mặt trời mọc, họ ra khỏi nhà mình, đi vào thành và mua “thuốc thơm” đặng “xức” xác Chúa Jêsus. Giôsép người Arimathê và Nicôđem đã quấn thi hài bằng vải gai mịn và đổ hương liệu trên thi thể. Dầu thơm mà mấy người đàn bà nầy dự tính sử dụng sẽ góp phần vào mục đích che phủ mùi của sự thối rửa.
Vì vậy, họ đi ra vào tối thứ Bảy và lo mua sắm. Dự tính của họ là đi đến mộ sáng hôm sau và thể hiện một hành động yêu thương và phục vụ lần sau cùng cho Đức Chúa Jêsus Christ. Đối với họ, đây là cách kết thúc liên quan đến sự chết của Ngài.
B. Sự tin kính của họ (câu 2) – Trong xã hội thời ấy, hầu hết mọi người đều thức dậy trước bình minh, vào khoảng 5:30 sáng. Rõ ràng là mấy người đàn bà nầy đã dậy sớm hơn giờ đó. Họ đã thức giấc từ giường ngủ của họ, cùng nhau thu thập các thứ hương liệu rồi lên đường đi từ thành Bêthany, là nơi họ sinh sống, đến với ngôi mộ nằm ở ngoài thành Jerusalem. Đây là chuyến đi khoảng 2 dặm đường.
Tình yêu và sự tin kính của họ đối với Đức Chúa Jêsus Christ được thấy rõ trong công việc đượm tình yêu thương nầy. Họ đã nát lòng về cái chết của Ngài và họ đang trong sự vội vã để đến với Ngài hầu cho họ có thể phục vụ Ngài lần sau cùng.
C. Những điều họ hồ nghi (câu 3) – Khi họ đi rồi, họ cứ trò chuyện về hòn đá chặn cửa mộ. Trời vừa tờ mờ sáng sau khi họ mua các thứ hương liệu để xức cho thi thể của Chúa. Rốt lại, ngôi mộ bị đóng ấn bằng cách lăn hòn đá lớn chặn nơi cửa. Theo một ước tính, hòn đá nầy có thể nặng tới 1.000 cân Anh. Mấy người phụ nữ nầy không thể tự mình dời nổi hòn đá ấy, và họ biết rõ điều đó. Họ đang lo về việc ấy.
Họ cũng không nhớ tới sự thực các cấp lãnh đạo Do thái đã thuyết phục Philát về các môn đồ của Chúa sẽ tìm cách cướp lấy thi thể của Chúa. Người Do thái tin các môn đồ sẽ lấy xác đi rồi cho rằng Chúa Jêsus vẫn còn sống. Vì vậy, họ yêu cầu Philát đặt các lính canh Lamã tại ngôi mộ và đóng ấn ngôi mộ với con dấu chính thức của Philát. Philát đã làm theo lời yêu cầu nầy cho người Do thái, Mathiơ 27:62-66. Nếu như họ nhìn biết như thế, nổi sợ của họ còn mạnh mẽ hơn khi họ đang trên đường đến với ngôi mộ đó.
(Lưu ý: Khi mấy người đàn bà nầy trên đường đến với ngôi mộ vào sáng hôm ấy, họ đầy dẫy với buồn rầu và sợ hãi. Họ không đi đến đó đặng tìm kiếm một Chúa hằng sống, họ đang tìm một thi hài đã chết lạnh. Có phải bạn biết đâu là nan đề của họ không? Nan đề, ấy là họ vẫn đang sống trong ngày thứ Bảy!
Khi ngày thứ Bảy đáng sợ ấy vừa ló dạng, mọi sự họ có thể nhìn thấy là những di tích tan tác mọi mơ ước của họ. Mấy người đàn bà nầy, cùng với tất cả các môn đồ của Chúa, đã đặt mọi sự họ tin tưởng và lòng tin cậy của họ nơi Chúa Jêsus. Họ tin rằng Ngài là Đấng Mêsi. Họ tin rằng Ngài là Đấng sẽ làm ứng nghiệm mọi lời tiên tri xưa kia. Họ tin rằng Ngài là Đấng sẽ lên làm Vua xứ Israel. Họ tin rằng Ngài sẽ thiết lập Vương Quốc của Đức Chúa Trời ở trên đất. Tất cả mọi hy vọng của họ về cuộc sống và cõi đời đời đều được gói ghém lại trong những gì họ đã tin tưởng nơi Chúa Jêsus.
Thế rồi, mọi mơ ước đẹp đẽ nhất đã vụn nát dưới đất giống như bụi đất khi họ đứng đó tại thập tự giá mà nhìn Ngài gục chết. Đức tin đổi thành đau buồn, và buồn rầu đổi thành vô vọng khi họ nhìn thấy thi thể tan nát của Ngài được đưa xuống khỏi thập tự giá rồi đem đặt vào trong ngôi mộ ấy. Khi hòn đá kia được lăn chặn cửa mộ, đó là một câu nói kết thúc vang lên. Hòn đá ấy nói: “Thôi hết rồi! Thôi hết rồi! Thôi hết rồi! Chẳng còn có hy vọng nữa rồi! Chẳng còn có tương lai gì nữa hết! Chẳng có sự cứu rỗi chi cả! Chẳng có một Vương quốc nào cả! Jêsus đã chết! Thôi hết rồi!”)
(Lưu ý: Nếu câu chuyện nói tới Chúa Jêsus kết thúc với Ngài bị đem chôn trong ngôi mộ và với hòn đá lăn chặn cửa mộ, sẽ chẳng có hy vọng gì cho hôm nay. Phaolô nói: “Nếu chúng ta chỉ có sự trông cậy trong Đấng Christ về đời nầy mà thôi, thì trong cả mọi người, chúng ta là kẻ khốn nạn hơn hết” I Côrinhtô 15:19).
Và, đấy là chỗ mà nhiều người đang tại vị trong thời của chúng ta. Họ đang sống vào ngày thứ Bảy, và thậm chí họ không biết rằng ngày Chúa nhật đang tới đến! Con người di động qua thế gian nầy bị trói buộc bởi tội lỗi của họ, Êphêsô 2:1-3. Họ di động qua thế gian nầy mà quên bẳng đi Đức Chúa Trời là Đấng hằng sống để cứu lấy họ, Rôma 1:18-21. Họ di động qua thế gian nầy mà chẳng có sự vui mừng, không có sự bình an, chẳng có hy vọng, bị bẫy trong tội lỗi của họ và đã hướng tới Địa Ngục. Nan đề với đại đa số con người, ấy là họ còn đang bị trói buộc trong ngày thứ Bảy. Họ sống trong bóng tối tăm của tội lỗi, sự băng hoại và không ý thức được niềm vui khôn tả xiết và sự vinh hiển dẫy đầy sẽ thuộc về họ một khi họ chỉ nhìn biết rằng ngôi mộ kia đang trống không, Chúa Jêsus hiện đang sống và họ sẽ được giải cứu khỏi vòng nô lệ cùng bóng tối tăm của tội lỗi họ).
I. Chức vụ yêu thương
II. SỨ ĐIỆP NÓI TỚI SỰ SỐNG (các câu 4-6)
(Minh họa: Khi mấy người đàn bà nầy đến tại ngôi mộ, nổi sợ hãi đã được thay đổi thành kinh ngạc. Mác ghi lại “khi ngó xem”. Khi họ đang hướng tới ngôi mộ, đầu họ cúi xuống, hai mắt của họ nhìn xuống vì cớ họ buồn chán lắm. Khi họ đến gần ngôi mộ, họ nhướng mắt lên thì thấy hòn đá to kia đã được lăn ra khỏi cửa mộ và con đường vào trong mộ đang rộng mở.
Họ không biết rằng trước khi họ đến vào buổi sáng hôm ấy, đã có một “trận động đất lớn lắm” và thiên sứ đã đến nơi mộ rồi dời hòn đá đi. Họ không biết rằng trận động đất và sự hiện ra của thiên sứ đã gây sợ hãi cho mấy tên lính canh Lamã và họ đã trốn khỏi nơi ấy trong sợ hãi, Mathiơ 28:2-4.
Mọi sự họ nhìn thấy là ngôi mộ mở toang ra và họ lại sợ điều tệ hại nhất. Chắc chắn là họ lo rằng kẻ thù của Chúa đã đem thi thể của Ngài đi. Có lẽ họ bị phủ lút với nổi sợ mới, rằng thi thể của Chúa sẽ bị đem làm trò sỉ nhục còn lớn lao hơn thi thể ấy đã từng trải nghiệm nữa. Sau khi nhìn thấy hòn đá được lăn ra khỏi đó đã làm cho tấm lòng họ ấm lên, vì vậy họ đã chạy hết phần đường còn lại đến mộ để xem cho biết.
Khi họ vào trong mộ rồi, họ thấy “một người trẻ tuổi ngồi bên hữu”. Ngài ăn mặc thật lạ lùng. Chúng ta biết từ các câu chuyện Tin Lành khác rằng đây không phải là một người trẻ tuổi bình thường đâu. Cá nhân nầy là một thiên sứ! Thiên sứ nầy bắt đầu phán với mấy người đàn bà. Ngài có một sứ điệp dành cho họ. Đây là sứ điệp đã được ấn định để giúp cho họ thôi đừng sống trong ngày thứ Bảy nữa. Đây là một sứ điệp đã được ấn định để giúp cho họ kinh nghiệm quyền phép của ngày Chúa nhật trong đời sống của họ. Chúng ta hãy cùng nhau xem qua sứ điệp đó).

A. Một sứ điệp bình an (câu 6a) – Ngài bảo họ: “đừng sợ chi”. Khi họ nhìn thấy thiên sứ, họ đã bắt sợ hãi. Từ ngữ “sợ” sát nghĩa có ý nói “bị kinh khiếp ụp lấy”. Họ nhìn thấy thiên sứ và họ bị phủ lút với sợ hãi. Nhưng, Ngài phán với họ và hiến cho họ một sứ điệp bình an. Ngài bảo họ rằng chẳng nhất thiết phải lo sợ nữa. Mọi việc không phải như họ nhìn thấy ở bề mặt đâu. (Minh họa: Mọi sự không phải là thế đâu! Chẳng có gì tồi tệ như lý trí, tấm lòng của bạn, ma quỉ đang nói cho bạn biết như thế!)
B. Một sứ điệp đầy năng quyền (câu 6b) – Ngài nói cho họ biết rằng Ngài biết lý do tại sao họ đi đến đó. Ngài biết họ đến đặng tìm kiếm thi thể của Chúa Jêsus. Ngài khẳng định mọi điều họ biết rõ rồi. Chúa Jêsus đã bị “đóng đinh trên thập tự giá”. Ngài đã chết. Họ không bị dối gạt bởi những gì họ trông thấy. Họ thực sự nhìn thấy Chúa Jêsus bị đóng đinh trên một cây thập tự. Họ thực sự nhìn thấy huyết Ngài khi nó tuôn ra từ thân thể của Ngài. Họ thực sự nhìn thấy Ngài trút linh hồn. Họ thực sự nhìn thấy Ngài gục chết.
Ngài muốn họ nhìn biết tiếng kêu của Ngài “mọi sự đã được trọn!” không có nghĩa là Ngài đã xong đời rồi đâu! Ngài đã chết, nhưng Ngài không chết luôn! Tiếng kêu đầy vui mừng là: “Ngài đã sống lại rồi!” Thiên sứ muốn họ phải nhìn biết rằng quyền lực của sự chết đã bị nuốt mất bởi quyền phép sự sống lớn lao hơn! Thiên sứ muốn họ phải nhìn biết rằng ngôi mộ trống của Chúa không phải là chốn thất vọng và thất bại. Ngôi mộ trống ấy là một nơi của sự vinh hiển, một nơi của quyền phép và một nơi của hy vọng.
(Minh họa: Sự thực là, nếu Đức Chúa Jêsus Christ đã gục chết trên thập tự giá mà không sống lại từ kẻ chết, mọi sự chúng ta sống và tin theo trong vai trò Cơ đốc nhân sẽ rơi vào chỗ luống nhưng tuyệt đối, Minh họa: I Côrinhtô 15:12-20.
1. Đấng Christ chẳng sống lại (câu 13)
a. Ngài đã chết trong hư không, Rôma 4:24; 5:10
b. Ngài nói dối, Mathiơ 16:21; 12:40
c. Ngài chẳng có quyền phép chi để cứu, và Ngài chẳng thể cứu được ai hôm nay!
2. Sự giảng dạy của chúng ta ra luống công (câu 14) - (Minh họa: một lời nói dối trọng đại!) (Chúng ta chẳng thể giúp được ai, hết thảy sẽ vào địa ngục!)
3. Đức tin chúng ta ra vô ích (câu 14) – Mọi sự chúng ta làm, sự cầu nguyện, học hỏi, làm chứng, sinh hoạt, hy vọng, nên thánh, ngợi khen đều là luống công!
4. Tất cả Cơ đốc nhân đều là hạng người dối trá (câu 15) – Sự làm chứng của chúng ta đều là giả dối, về mặt lý trí chúng ta đã bị rối loạn!
5. Hết thảy chúng ta đều bị hư mất trong tội lỗi (câu 17) - Rôma 10:9; 5:10 Ill. Hêbơrơ 7:25. Một Cứu Chúa chết chẳng thể cứu được ai cả!
6. Những người thân quá cố của chúng ta bị hư mất đời đời (câu 18) – Hết thảy họ đã chết và đang nằm trong lòng đất, hay trong Địa Ngục hôm nay!
7. Chúng ta đáng thương hơn hết (câu 19) – hết thảy chúng ta đều là dại dột, xây dựng đời sống và mọi hy vọng của mình trên thi thể của một người đã chết. Hết thảy chúng ta đều bị bó buộc ở địa ngục.
8. Chúa Jêsus đã sống lại (câu 20) – Và vì Ngài đang sống, mọi sự tiêu cực biến thành tích cực. Ngài có quyền cứu rỗi linh hồn. Ngài có quyền ban cho chúng ta sự sống của Ngài. Ngài có quyền thay đổi chúng ta từ loài thọ tạo bẩn thỉu ra giống với ảnh tượng của Ngài vì cớ sự vinh hiển của Ngài
Chúa Jêsus đang sống, y như thiên sứ đã nói! Đấy là sứ điệp mà mấy người đàn bà kia cần phải nghe vào sáng Chúa nhật ấy và đó là sứ điệp mà bạn cần phải nghe biết vào sáng Chúa nhật nầy!)
C. Một sứ điệp với minh chứng (câu 6c) – Sau khi nói cho mấy người đàn bà biết rằng Chúa Jêsus đã sống lại từ kẻ chết, thiên sứ mời họ nhìn vào nơi mà thi thể đã nằm. Khi họ nhìn vào, Kinh thánh cho chúng ta biết những thứ họ đã nhìn thấy ở Giăng 20:6-7. Họ đã nhìn thấy vải liệm quấn quanh thân thể, vẫn còn nằm ở đó, không bị xáo lộn, giống như thể thi hài đã đi xuyên qua chúng vậy. Họ đã nhìn thấy cái khăn liệm trùm đầu đã gấp lại, được đặt ở một bên. Họ đã nhìn vào một cảnh tượng trật tự và yên tĩnh tuyệt đối.
Đây chẳng phải là loại bối cảnh mà họ sẽ chứng kiến nếu như người ta đến lấy hay di dời thi thể đi. Sứ điệp từ ngôi mộ trống ấy cho thấy Chúa Jêsus đang sống! Trong 2.000 năm, phái phê bình đã tìm cách chứng minh sự sống lại không diễn ra. Họ đã bịa ra từng loại lý thuyết có thể hình dung được về ngôi mộ trống. Từng lý thuyết họ đưa ra bị tan thành từng mảnh vụn do sự làm chứng của ngôi mộ trống ấy!
Nếu người Do thái có một thi hài, họ đã tạo ra nó khi các môn đồ khởi sự rao giảng về sự sống lại. Nếu các môn đồ đã lấy thi hài ấy, họ sẽ không chịu chết vì một lời nói dối. Thi hài mất đi đó luôn luôn là bất khả thi cho phái phê bình thắng hơn. Thi thể của Ngài đã mất đi vì Ngài đang sống! Chúa Jêsus đã bước ra khỏi ngôi mộ vào sáng hôm ấy trong sự đắc thắng đời đời đối với sự chết và mồ mả!
(Lưu ý: Ngôi mộ trống ấy vẫn còn được rao giảng hôm nay! Ngôi mộ ấy vẫn còn nói cho thế gian nầy biết rằng Chúa Jêsus hiện đang sống và Ngài có quyền cứu hết thảy những ai chịu đến với Ngài bởi đức tin, Hêbơrơ 7:25. Quí bạn ơi, nếu bạn vẫn còn bị bẫy trong bóng chết và bóng tối tăm của tội lỗi mình, cho phép tôi nói cho bạn biết rằng bạn không nên ở mãi trong tình trạng đó mà chi. Chúa Jêsus đang sống hôm nay và Ngài có thể cứu bạn ra khỏi ngày thứ Bảy của tội lỗi bạn rồi chuyển bạn sang ngày Chúa nhật của đời mới đấy.
Sứ điệp nói tới ngôi mộ trống đã lăn hòn đá khỏi cửa lòng của mấy người đàn bà lo buồn, khổ sở kia. Sứ điệp ấy đem họ ra khỏi bóng u ám của thất bại mà vào sự vinh hiển của sự sống. Sứ điệp ấy có thể thực hiện y như thế cho bạn nữa đấy! Hãy lắng nghe sứ điệp ấy và ấp ủ nó hôm nay! Nguyện Đức Chúa Trời lăn hòn đá ra khỏi tấm lòng của bạn. Hãy đến với Chúa Jêsus mà được cứu. Hãy đến với Chúa Jêsus và hãy để Ngài thay đổi đời sống của bạn hôm nay!)
I. Chức vụ yêu thương
II. Sứ điệp nói tới sự sống
III. SỨ MỆNH GIẢI PHÓNG (các câu 7-8)
A. Một mạng lịnh (câu 7) – Thiên sứ đưa họ ra khỏi ngôi mộ đặng đem sứ điệp đến cho các môn đồ của Chúa. Mấy người đàn ông kia đầy dẫy với sợ hãi và họ đang lẫn trốn, Giăng 20:19, nhưng Đức Chúa Trời muốn họ phải biết rõ Chúa Jêsus hiện đang sống. Chẳng cần gì phải sợ cả! Có sự vui mừng. Có hy vọng rồi. Ngay cả Phierơ, là người mới vừa chối Chúa đó, đã được chọn. Chúa muốn Phierơ nhìn biết rằng ông cũng được yêu thương nữa.
Ba người đàn bà đến với ngôi mộ sáng hôm ấy đã có lòng lo về việc lăn hòn đá ra khỏi mộ. Họ không biết sự ấy, nhưng Đức Chúa Trời sắp sửa sử dụng họ để vô số hòn đá ra khỏi tấm lòng của hàng triệu người. Họ là những người đầu tiên lo rao giảng các tin tức tốt lành nói tới ngôi mộ trống đó!
B. Một sự thay đổi (câu 8) – Họ đến ngôi mộ ấy với sự buồn rầu ở trong lòng và họ rời khởi đó với một tâm trạng khác. Kinh Thánh chép rằng họ “run sợ sửng sốt”. Cụm từ ấy đề cập tới một “sự đổi ý”. Những gì họ đã nhìn thấy và đã nghe tại ngôi mộ trống đúng ra đã “thổi bùng lý trí của họ”. Sự việc gần như là vượt quá trí hiểu của họ.
Cụm từ ấy có ý tưởng “bị phủ lút với nổi sợ có bản chất tôn giáo”. Nói khác đi, mọi sự họ gặp gỡ tại ngôi mộ trống không phải là điều họ trông mong khi họ đi đến đó. Nhưng, những gì họ gặp gỡ đã làm thay đổi đời sống họ, rồi thay thể nổi buồn của họ bằng nhận thức phủ lút về quyền phép của Đức Chúa Trời. Họ biết rõ giờ đây họ là một phần của phép lạ cả thể và họ đã bỏ chạy đi hầu thuật lại cho nhiều người khác biết về Chúa phục sinh của họ!
C. Các hậu quả – Mác cho chúng ta biết họ không nói về những điều họ đã thấy và nghe với bất cứ ai trên đường. Chúng ta biết từ các trước giả Tin Lành khác rằng họ đã chạy đi để tìm các môn đồ rồi thuật lại cho họ biết, Mathiơ 28:8; Giăng 20:1. Những tin tức nầy cũng đã tác động vào các môn đồ. Phần nhiều người trong số họ đã chạy ra mộ. Kinh thánh cho chúng ta biết rằng Giăng đã nhìn vào trong rồi thấy bằng chứng, và rồi ông đã tin theo, Giăng 20:8. Vào cuối ngày ấy, Chúa Jêsus đã hiện ra cho nhiều môn đồ thấy.
Sứ điệp nói tới mấy người đàn bà nầy đã khiến cho nhiều hòn đã bị lăn xa. Vì cớ sự làm chứng của họ, nhiều người đã được đem ra khỏi bóng tối tăm của ngày thứ Bảy rồi bước vào sự lạ lùng vinh hiển của ngày Chúa nhật!
(Lưu ý: Đấy là quyền phép của sự sống lại. Khi sự sống lại trước tiên được gặp gỡ và tin theo, nó đầy dẫy tấm lòng với sự sửng sốt. Khi sự sống lại của Chúa được đức tin vòng tay ôm lấy, sự ấy đem lại một thay đổi trong đời sống của người nào tiếp nhận lẽ thật của nó. Khi sự chết và sự sống lại của Chúa Jêsus, những điều ấy là Tin Lành, I Côrinhtô 15:3-4; Rôma 4:25, được đức tin vòng tay ôm lấy, một sự sanh lại liền diễn ra. Tội nhân biến thành thánh đồ. Con cái của ma quỉ trở thành con cái của Đức Chúa Trời. Một tạo vật mới được sanh ra, Giăng 3:3; II Côrinhtô 5:17. Một đời mới hít thở từng hơi sống đầu tiên của nó.
Đời mới ấy chưa phải là trọn vẹn đâu, song nó rất khác biệt. Đó là một đời sống mà Đấng Christ đang sống qua, Galati 2:20; Giăng 7:37-38. Đây là một đời sống phấn đấu để nhìn biết Đức Chúa Trời và quyền phép của Đấng Christ phục sinh, Philíp 3:9-10. Đây là một đời sống không còn thỏa mãn với những ngày thứ Bảy nữa. Đây là một đời sống ao ước mọi sự vinh hiển của ngày Chúa nhật phải rất thực cho từng ngày một! Đây là một đời sống không thể giữ mãi những tin tốt lành cho chính mình. Nó phải nói cho nhiều người khác biết vì nó muốn nhiều người khác nhiều người khác phải có những điều mà nó đang tận hưởng.
Đấy là quyền phép của ngôi mộ trống. Nó có quyền lăn hòn đá đi trong nhiều đời sống. Nó có quyền giải cứu chúng ta ra khỏi ngày thứ Bảy chết chóc của chúng ta. Nó có quyền giúp chúng ta sống trong ngày Chúa nhật đắc thắng của Ngài!)
Phần kết luận: Đúng vậy, một ngày tạo ra sự khác biệt! Vào ngày thứ Bảy mọi sự dường ảm đạm, trơ trọi và chết chóc. Vào ngày Chúa nhật, mọi sự đã thay đổi cho đến đời đời! Vào ngày Chúa nhật, hòn đá đã bị lăn đi và thế gian không còn y như thế nữa.
Vào ngày Chúa nhật, một số tín đồ trong tình trạng vật vã có các hòn đá được lăn ra khỏi tấm lòng của họ. Họ đã nghe được các tin tốt lành nói rằng Chúa Jêsus hiện đang sống. Họ đã tin theo sứ điệp ấy và nó làm thay đổi đời sống của họ. Họ đã chia sẻ sứ điệp ấy với nhiều người khác, là những kẻ còn bị bẫy trong bóng chết và bóng tối tăm của những ngày thứ Bảy nọ. Phần nhiều người trong số ấy đã tin theo và hòn đá đã được lăn xa khỏi tấm lòng của họ. Họ đã được cứu và khởi sự tận hưởng ngày Chúa nhật vinh hiển trong sự hiện diện của Ngài.
Sứ điệp vẫn còn vang lên hôm nay. Tôi đã nghe sứ điệp ấy một ngày kia. Tôi đã tin theo và tôi được biến đổi từ một ngày thứ Bảy chết chóc, u buồn, tối tăm sang trải nghiệm tuyệt vời, vinh hiển của ngày Chúa nhật. Tôi đã nhìn thấy nhiều người khác đã được giải phóng và tôi đang chia sẻ sứ điệp ấy với bạn hôm nay.
Sao chứ? Một số người trong các bạn vẫn còn sống trong ngày thứ Bảy ư!?! Các bạn chẳng có hy vọng đâu. Các bạn đang dãy chết trong quá phạm và tội lỗi của mình đấy. Nếu các bạn gục chết trong tình trạng đó, các bạn sẽ chết trong sự hư mất và các bạn sẽ đi thẳng đến Địa Ngục. Tôi có mặt ở đây để nói cho các bạn biết rằng các bạn không phải sống trong tình trạng ấy mà chi. Chúa có quyền lăn xa hòn đá ra khỏi tấm lòng của các bạn. Ngài có quyền dẫn bạn ra khỏi bóng tối tăm mà bước vào chỗ sáng láng của Ngài; ra khỏi bóng chết của bạn mà bước vào sự sáng của Ngài.
Giống như Ngài đã làm cho Laxarơ sống lại từ kẻ chết, Giăng 11, Chúa Jêsus có thể làm y như thế cho các bạn đấy. Bạn không muốn được cứu sao? Bạn không muốn được giải phóng ra khỏi ngày thứ Bảy chết chóc, thất bại, u ám, tối tăm và kinh nghiệm ngày Chúa nhật bình an, vui mừng và cứu rỗi của Ngài sao? Nếu Ngài đang đứng ngoài mộ địa của bạn hôm nay, và Ngài đang kêu gọi, làm ơn hãy đến với Ngài ngay bây giờ đi. Hãy đến và được cứu. Hãy bỏ ngày thứ Bảy lại sau lưng, rồi hãy đến để nhận lấy mọi sự mà ngày Chúa nhật sẽ cung ứng cho!

Thứ Ba, 4 tháng 1, 2011

Mác 16:1-8: "SỨ ĐIỆP CỦA THIÊN SỨ TRONG NGÀY CHÚA PHỤC SINH"


Mác 16:1-8
SỨ ĐIỆP CỦA THIÊN SỨ TRONG NGÀY CHÚA PHỤC SINH
Phần giới thiệu
: Khắp cả Kinh thánh, Đức Chúa Trời sử dụng hàng thiên sứ để đưa ra những lời loan báo đặc biệt cho nhân loại. Thí dụ, Ngài sử dụng một thiên sứ để:
1. Gửi một sứ điệp nói tới sự hủy diệt cho Lót biết trong thành Sôđôm – Sáng thế ký 19
2. Loan báo sự ra đời của Samsôn – Các Quan Xét 13
3. Loan báo sự ra đời của Giăng Báptít – Luca 1
4. Loan báo sự thai dựng của Đấng Christ – Luca 1:11
5. Loan báo sự ra đời của Đấng Christ – Luca 2:8-14
Dường như khi Đức Chúa Trời có một sự rao báo việc gì đó cực kỳ quan trọng, Ngài thường gửi sứ điệp ấy qua một thiên sứ. Từ việc đọc Kinh Thánh, bạn sẽ lấy làm lạ, không biết thiên sứ có ngày nào nghỉ không nữa! Trong phân đoạn Kinh Thánh của chúng ta, chúng ta được một thiên sứ rao ra một lời loan báo vẫn còn vang dội khắp vũ trụ hơn 2.000 năm sau đó. Chính sứ điệp đặc biệt nầy ra từ thiên sứ trong ngày Chúa Phục Sinh ấy mà tôi muốn chúng ta cùng xem xét sáng nay.
Vào buổi sáng Phục Sinh đầu tiên đó, khi bình minh hé dạng trên một thế giới đã được thay đổi cho đến đời đời, một thiên sứ đặc biệt đã phát ra một sứ điệp thật đặc biệt, một sứ điệp vẫn còn là quan trọng cho hôm nay. Chúng ta hãy dành ra vài phút để nghe sứ điệp của Thiên Sứ Trong Ngày Chúa Phục Sinh.
(Minh họa: Nội dung). Sợ hãi và kinh khiếp đã đầy dẫy tấm lòng của nhóm phụ nữ nhỏ bé nầy khi họ bắt con đường ngang qua các đường phố yên ắng và tối om của thành Jerusalem vào sáng sớm ngày Chúa nhật ấy. Họ đang đi ra ngôi mộ của người mà hết thảy họ đều tin đó là Đấng Mêsi, là nhân vật mà vì Ngài họ để mọi sự lại sau lưng. Họ đang đi ra ngôi mộ của một nhân vật đã hứa sự sống cho hết thảy những ai đã đến với Ngài, nhưng giờ đây, chính mình Ngài đã chết mất. Nhất định, họ đã lầm lẫn và bối rối khi họ đến gần với ngôi mộ. Họ cũng lo lắng về tảng đá to lớn kia đang chặn lối vào trước cửa mộ. Làm sao họ đến gần thi thể được chứ? Làm sao mấy người đàn bà nầy hy vọng dời một tảng đá nặng vài trăm cân Anh khỏi đó được chứ? Thế mà họ cứ đi tới, cùng với sứ mệnh thật dịu dàng của họ, họ đem theo những thứ để sửa soạn cho thi thể của Đấng Christ. Khi họ đến trong tầm nhìn thấy ngôi mộ, họ lấy làm lạ khi thấy hòn đá đã được lăn đi rồi và mấy tên lính Lamã đang nằm như người chết quanh cửa mộ. Khi nhìn thấy như vậy, họ bèn chạy đến mộ và nhìn vào trong, chỉ để thấy rằng thi thể của Chúa Jêsus không còn ở đó nữa. Đúng là nổi sợ hãi đã bắt lấy tấm lòng của họ! Có lẽ họ sợ rằng các nhà cầm quyền Do thái hay người Lamã đã lấy thi thể đi hầu ngăn trở các môn đồ Ngài không nhắc tới sự sống lại của Ngài nữa. Có thể họ nghi rằng mấy tên cướp lì lợm đã lấy thi thể đi và sẽ sử dụng thi thể ấy trong một âm mưu cong quẹo nào đó. Bất luận mọi hồ nghi và thắc mắc nào đã đầy dẫy tấm lòng của họ, chúng không thể tồn tại lâu được. Vì, thình lình, mấy người đàn bà để ý thấy một "thiên sứ" đang ngồi trên hòn đá, Mathiơ 28:2-3. Vị thiên sứ nầy nhìn thấy nổi sợ hãi của họ và bắt đầu phán cùng họ. Khi làm vậy, Ngài phát ra một sứ điệp nói tới niềm hy vọng vẫn còn có quyền phép làm thay đổi nhiều đời sống sáng nay. Chúng ta hãy lắng nghe và nghe cho chính mình "Sứ Điệp Của Thiên Sứ Trong Ngày Chúa Phục Sinh".
Đây là một sứ điệp nói tới:
I. SỰ BÌNH AN (câu 6a) (Minh họa: "Đừng sợ chi")
A. Minh họa: Mấy người đàn bà nầy đã cảm thấy sợ hãi khi họ nhìn thấy thiên sứ. Nhưng quả là ân điển khi lời lẽ đầu tiên thốt ra từ môi miệng của Ngài là lời lẽ nói tới sự bình an. Tuy nhiên, đây là cách mà Chúa luôn luôn tỏ ra với dân sự của Ngài – II Timôthê 1:7.
B. Thật là thích ứng khi sự sống lại của Ngài có đính kèm theo một sứ điệp nói tới bình an. Vì sau 2.000 năm, sự Ngài sống lại từ kẻ chết vẫn đem chính sứ điệp bình an ấy cho mọi lòng của hết thảy những ai chịu tin theo Ngài!
C. Hãy chú ý một số lãnh vực trong cuộc sống mà sự sống lại của Ngài ban bình an ở đó:
1. Sự cứu rỗi – Hêbơrơ 7:25
2. Sự chết – Giăng 11:25-26
3. Cõi đời đời – Giăng 14:1-3 (Minh họa: Giăng đã nhìn thoáng qua Đấng Christ vinh hiển và Ngài đang sống mạnh giỏi! Khải huyền 1:13-18. Ngài là hằng sống và đang chờ đợi con cái Ngài về đến quê hương!)
4. Chính sự sống – Giăng 14:16-18
D. Tôi không biết về bạn, nhưng những việc đó cung ứng cho tôi sự bình an thật trong tấm lòng! Không những đây là sứ điệp nói tới sự bình an, mà còn là một sứ điệp nói tới:
II. QUYỀN PHÉP ((câu 6b) (Minh họa: "Ngài sống lại rồi!")
A. Chúa Jêsus không phải là người đầu tiên sống lại từ trong kẻ chết, (Minh họa: Laxarơ – Giăng 11; Bà góa phụ mẹ của người con trai thành Nain – Luca 7; con gái của Giairu – Mác 5), nhưng Ngài là người đầu tiên sống lại mà không chết nữa! (Minh họa: tất cả những người khác chỉ là những kẻ đã tỉnh lại thôi, Chúa Jêsus mới là người sống lại thật).
B. Vì Ngài có quyền chinh phục sự chết, tất cả những ai tiếp nhận Ngài làm Cứu Chúa cho riêng mình đều trở thành những kẻ dự phần vào chính quyền phép sống lại đó. (Minh họa: Ngay thì giờ cứu rỗi, sự sống lại của Ngài được gắn vào chúng ta và chúng ta trở nên sống động với Ngài, Rôma 6:8; II Timôthê 2:11. Đây là "sự sống dư dật" mà Chúa Jêsus đã từng nói tới, Giăng 10:10).
C. Mọi quyền phép sống lại quan trọng như thế nầy sẽ hoàn toàn được nhìn biết khi Chúa Jêsus tái lâm và làm cho những kẻ chết trong Đấng Christ được sống lại. Hãy tưởng tượng tất cả các thánh đồ đã chết kia sống lại từ kẻ chết và được làm cho vinh hiển để sống đời đời với Chúa Jêsus! (Minh họa: I Têsalônica 4:13-18).
D. Nếu dân sự của Đức Chúa Trời chịu để thì giờ ra nhìn quanh họ và nhìn thấy những gì Chúa đã làm khi cứu lấy kẻ bị mất và làm thay đổi nhiều đời sống của kẻ được chuộc, thật là đơn giản khi quyền phép phục sinh của Chúa Jêsus đang tác động quanh chúng ta hôm nay. Từng tội nhân được chuộc là một bằng chứng cho quyền phép làm thay đổi đời sống; quyền phép ban sự sống của Đấng Christ phục sinh. Rốt lại, một người đã chết không có quyền làm thay đổi bất kỳ ai! Nhưng một Chúa hằng sống có thể thực thi nhiều phép lạ trong bất kỳ đời sống nào bị hủy hoại và chìm đắm, I Côrinhtô 5:17.
Không những đây là một sứ điệp nói tới Sự Bình An và Quyền Phép, mà còn là một sứ điệp nói tới:
III. KHẢ NĂNG (câu 6c) (Minh họa: "Ngài chẳng còn ở đây!")
A. Sau khi Chúa Jêsus sống lại từ kẻ chết, ngay lập tức Ngài biến mất và hiện ra, Ngài bận rộn lắm khi lo liệu một việc rất là quan trọng. (Minh họa: Sự hiện ra của Ngài cho Mary Mađờlen – Giăng 20:11-18. Chúa Jêsus cấm không được rờ đến Ngài sáng hôm ấy vì Ngài đã trên đường đến với Đức Chúa Cha).
B. Là Thầy Tế Lễ Thượng Phẩm, Chúa Jêsus sẽ là Đấng buộc phải dâng huyết trên ngôi thương xót làm của lễ chuộc tội cho thế gian. Dường như đấy là việc Chúa Jêsus sẽ làm vào sáng hôm ấy khi Ngài vắng mặt nơi ngôi mộ, Minh họa: Hêbơrơ 9:6-14. (Minh họa: Sự ngợi khen lớn lao đã đầy dẫy Thiên Đàng khi Chúa Jêsus đặt huyết của Ngài trên ngôi thương xót!)
C. Công tác nầy của Chúa phục sinh đã được hoàn tất cho đến đời đời, Hêbơrơ 10:12. Tuy nhiên, đừng suy nghĩ trong một phút cho rằng Chúa Jêsus không bận rộn sáng nay. Ngài vẫn sống động và Ngài vẫn năng động vì ích cho chúng ta. Ngài đang:
1. Hành động trong vai trò Đấng Cầu Thay cho chúng ta – Hêbơrơ 7:25; Rôma 8:34
2. Luôn luôn quan phòng chúng ta – Hêbơrơ 4:13; (Minh họa: Ngài cảm nhận nổi đau của chúng ta – Hêbơrơ 4:15) (Minh họa: Ngài quan tâm đến mọi vụ việc của chúng ta còn hơn chúng ta quan tâm nữa – Minh họa: Ngài đã đứng dậy khi Êtiên bị ném đá chết. Những nhu cần của dân sự Đức Chúa Trời làm cảm động Thiên đàng – Công Vụ các Sứ đồ 7:55).
3. Hành động trong vai trò Trạng Sư cho chúng ta – 1 Giăng 2:2
4. Chuẩn bị một chỗ cho chúng ta – Giăng 14:1-3
5. Chờ đợi Đức Chúa Cha sai Con Ngài theo sát con cái Ngài – Hêbơrơ 10:13.
D. Chúa Jêsus chia sẻ đặc điểm chung với từng tạo vật sống khác sáng nay; Ngài rất năng động. Nhưng, hoạt động của Ngài hết thảy là vì ích cho dân sự của Ngài!
Không những đây là sứ điệp nói tới Sự Bình An, quyền phép, và Khả Năng, mà còn là một sứ điệp nói tới:
IV. LỜI HỨA (câu 7) (Minh họa: "các ngươi sẽ thấy Ngài")
A. Thiên sứ kết thúc sứ điệp của Ngài với mấy người đàn bà nầy bằng cách nhắc cho họ nhớ tới lời hứa của Chúa. Họ sẽ lại thấy Ngài. Lời nầy từ nơi Chúa đã nhấc cao tấm lòng của họ lên. Họ đã ra đến ngôi mộ buổi sáng đó với lòng trông mong thấy thi thể đã chết của Ngài, họ rời khỏi đó với lời hứa rằng họ sẽ nhìn thấy gương mặt hằng sống của Ngài. Bạn có thể tưởng tượng nổi phấn khích của họ chăng?
B. Quí bạn tôi ơi, họ không có một việc giống như chúng ta sáng nay! Chúng ta có thể không nhìn thấy Chúa phục sinh ở đó tại xứ Galilê, nhưng chúng ta có một lời hứa rằng chỉ một thời gian ngắn nữa thôi. Bạn thấy đấy, chúng ta cũng sẽ nhìn thấy mặt Ngài, Khải huyền 22:4, không phải ở xứ Galilê đâu, mà trong sự vinh hiển!
C. Thật vậy, chúng ta sẽ thấy Ngài trước tiên trong đám mây trên trời, I Têsalônica 4:16-17. Tiếp đến, chúng ta sẽ nhìn thấy Ngài tái lâm trong sự vinh hiển, Khải huyền 19:11-16. Tiếp đến, chúng ta sẽ thấy Ngài tể trị thế gian nầy trong vai trò Vua các vua và Chúa các chúa, Khải huyền 19:15. Tiếp đến, chúng ta sẽ thấy mặt Ngài cho đến đời đời trong mọi sự vinh hiển của Ngài trên Thiên đàng. Tôi không biết về bạn, nhưng Chúa Jêsus sẽ là Thiên Đàng đủ cho tội nhân già nua nầy được cứu bởi ân điển! (Minh họa: Khi chúng ta thấy Ngài, chúng ta sẽ được nhắc nhớ cho đến đời đời về cái giá khủng khiếp mà Ngài đã trả cho chúng ta tại đồi Gôgôtha – Khải huyền 5:6; Giăng 20:25. Ngài vẫn là "Chiên Con đã chịu giết!") Và, cho đến đời đời, trong thân thể Ngài, Ngài sẽ mang lấy những dấu hiệu nói tới tình yêu thương của Ngài dành cho chúng ta!
D. Thiên đàng sẽ là nơi rất tuyệt vời vì chúng ta sẽ đến đó để gặp gỡ Chúa Jêsus. (Minh họa: Là điều chúng ta đáng được!)
Phần kết luận: Thiên sứ trong dịp Chúa phục sinh nầy đã rao giảng một sứ điệp đầy năng quyền, có phải không? Về mặt cá nhân, tôi tin chắc rằng đây là sứ điệp quan trọng nhất từng được phát ra bởi một thiên sứ cho loài người. Tôi chỉ ngợi khen Chúa sáng nay, vì tôi nhận biết Chúa Jêsus theo một cách riêng tư và tôi đã được cứu. Còn bạn thì sao? Bạn có nhận biết chưa? Ngài vẫn còn cứu rỗi nhiều linh hồn hôm nay! Ngài vẫn chúc phước cho nhiều tấm lòng hôm nay! Ngài vẫn làm đầy dẫy nhiều tôi tớ Ngài hôm nay! Làm sao được như thế chứ? Vì Ngài hằng sống! Vì những gì thiên sứ đã phán đều vẫn là sự thật: "Ngài sống lại rồi, Ngài chẳng còn ở đây!" Đối với điều đó, tôi nói: "Vinh hiển quy về Đức Chúa Trời!" Có phải bạn cần điều chi đó từ Đấng Christ hằng sống sáng nay không? Nếu có, hãy đến mà nhận lấy! Ngài sống vì bạn đấy!