Thứ Năm, 9 tháng 12, 2010

Mác 15:15-25: "BỐI CẢNH TRÊN ĐƯỜNG ĐẾN ĐỒI GÔGÔTHA"



Mác 15:15-25
BỐI CẢNH TRÊN ĐƯỜNG ĐẾN ĐỒI GÔGÔTHA
Phần giới thiệu
: Bối cảnh đã được đề ra. Tất cả những diễn viên đều có mặt ở đúng vị trí. Ai nấy đều nhìn biết chỗ đứng của họ mặc dù họ chưa hề tập luyện các vai trò đó. Hành động quan trọng nhất trong lịch sử loài người sắp sửa được bày ra.
Những câu nầy nói tới hậu quả cuộc xét xử Chúa chúng ta trước mặt người Do thái và kế đó là Philát. Cả hai: cấp lãnh đạo người Do thái và quan Tổng đốc Lamã đều xét đoán Chúa Jêsus và tuyên bố Ngài đáng bị tử hình.
Người Do thái đã làm vậy vì họ thù ghét Ngài. Họ đã thù ghét Chúa Jêsus vì Ngài xưng mình là Đấng Mêsi của họ. Ngài không phải là loại Mêsi mà họ đang trông mong, vì vậy họ đã chối bỏ Ngài rồi buộc Ngài phải chịu chết.
Philát đã kết án tử hình Chúa Jêsus hầu cứu lấy địa vị của ông ta với Rôma. Philát đã vi phạm từng tội lỗi mà ông ta đã biết rõ. Ông ta đã kết án Con Người mà chẳng ai có thể kết một án nào cả. Philát đã phạm tội chống lại lẽ thật, lương tâm, sự ngay thẳng và nguyên tắc trong việc xét xử Chúa Jêsus. Ông ta đã để cho một người vô tội bị đóng đinh trên thập tự giá hầu bảo đảm cho sự an ninh theo đời nầy. Khi làm như thế, Philát đã xét đoán linh hồn đời đời của ông ta trong Địa Ngục!
Hôm nay, chúng ta sẽ bước theo Chúa Jêsus từ pháp đình của Philát đến Đồi Gôgôtha, ở đó Ngài sẽ chịu chết vì tội lỗi của dân sự Ngài. Khi Chúa Jêsus bắt con đường của Ngài từ pháp đình của Philát đến đồi Gôgôtha, một vài bối cảnh được bày ra trong tấn thảm kịch nói tới sự chết của Ngài. Tôi muốn nhìn vào các bối cảnh ấy hôm nay.
Tôi muốn bạn chứng kiến Chúa Jêsus và mấy tên lính; Chúa Jêsus và Simôn; và Chúa Jêsus và đồi Sọ. Tôi muốn lấy mấy bối cảnh nầy từ những giờ phút sau cùng của Chúa chúng ta rồi rao giảng về Bối Cảnh Từ Con Đường Dẫn Đến Đồi Gôgôtha.
I. CHÚA JÊSUS VÀ MẤY TÊN LÍNH (các câu 15-20)
(Minh họa: Các cấp lãnh đạo Do thái đã đưa ra bản án của họ, câu 64. Dân chúng đã đưa ra bản án của họ, câu 12-14. Philát đã đưa ra lời kết án của ông ta, câu 15. Trong một nổ lực để chuyển sự đổ thừa về quyết định của ông ta sang người Do thái, Philát đã thực hiện một hình thức có tính biểu tượng khi rửa tay về toàn bộ vụ án, Mathiơ 27:24. Người Do thái đã chấp nhận sự đổ thừa về cái chết của Đấng Christ và đã công bố một lời rủa sả giáng trên họ và con cháu của họ, Mathiơ 27:25. Khi ấy, Philát đã giao Chúa Jêsus vào sự canh giữ của mấy tên lính để họ thi hành án chết của Ngài).
A. Đánh đòn (câu 15) – Khi mấy tên lính nhận Chúa Jêsus nơi tay họ, chúng bắt đầu ngược đãi Ngài. Việc đầu tiên chúng đã làm cho Ngài là “đánh đòn” Ngài. Kinh thánh đi qua biến cố nầy thật nhanh, độc giả sẽ nghĩ chẳng có gì nhiều để nói. Nhưng, cái điều cần phải nói, “đánh đòn” là một trong những hình phạt đáng sợ nhất do nhà cầm quyền Lamã lập ra.
Nạn nhân bị lột trần và buộc phải khom người bên một cây cọc thấp, phần lưng gắn chặt vào đó. Hai bàn tay và hai bàn chân bị trói lại rồi người bị quất với một dụng cụ gọi là “roi”. Công cụ hành hình độc ác nầy đích danh được gọi là “roi bò cạp”. Nó cũng được gọi là “con mèo chín đuôi”. Cây roi gồm một cái cán bằng gỗ từ đó nối mấy sợi dây bằng da. Ở đầu của sợi dây da ấy có gắn mẫu xương hay kim loại.
Cây roi nầy được sử dụng để đánh đòn tù nhân. Khi người bị đánh, mẫu xương và kim loại nơi cây roi sẽ móc ra từng mảng thịt lớn. Mạch máu và đôi khi các động mạch bị đứt rời ra. Khi ấy các bộ phận nội tạng bị bày ra và hai con mắt bị móc đi. Nhiều người đã chết chỉ qua cuộc đánh đòn nầy.
(Minh họa: Tôi không thể mô tả một cuộc đánh đòn nào giống như thế nầy được. Tôi không có từ vựng nào để mô tả nó. Tôi muốn bạn nhớ lý do tại sao Đức Chúa Jêsus Christ lại để cho sự đánh đòn kinh khiếp ấy đã diễn ra. Ngài đã cho phép nó vì Ngài yêu thương bạn đấy! Đấy là lằn đòn của bạn mà Ngài đã gánh chịu trong ngày đó. Ngài đã chịu đòn như thế để Ngài có thể cứu lấy linh hồn của bạn. Ngài cũng chịu thế để làm ứng nghiệm lời tiên tri thiêng liêng, Êsai 50:6).
B. Sự chế giễu (các câu 16-20) – Sau khi mấy tên lính đã đánh đòn Chúa Jêsus xong, họ đưa Ngài vào sân trong. Họ đã gọi “cả cơ binh” lại. Điều nầy có ý nói tới đội quân Lamã, hay khoảng 600 người. Tất cả binh lính không có bổn phận đã nhóm lại để đùa cợt với tội phạm đã bị kết án.
Đây là một việc thường xuyên mà mấy tên lính đã làm. Bao lâu chúng chưa giết tù phạm đã bị kết án, chúng được tự do đùa cợt với Ngài mặc ý chúng.
Số người nầy rất vô tâm và hoàn toàn chẳng có chút thương xót đối với Chúa Jêsus.
Hãy hình dung bối cảnh xem. Chúa Jêsus đang đứng ở trước mặt họ. Thân thể Ngài yếu lã đi qua cả đêm dài không ngủ. Gương mặt của Ngài phù lên từ sự ngược đãi mà Ngài đã gánh chịu nơi tay của Thầy Tế Cả và cảnh vệ của Đền Thờ, 14:65. Người của Ngài đẩm máu từ cuộc đánh đập kia. Da thịt Ngài rách tả tơi nơi lưng Ngài. Máu của Ngài đọng lại nơi hai chơn Ngài. Bạn sẽ nghĩ rằng việc nhìn thấy Chúa Jêsus trong tình trạng ấy sẽ khiến cho mấy tên lính phải rút tay lại. Nhưng họ chẳng rút tay lại đâu!
Thay vì thế, họ còn mở ra một trò chơi độc địa với Đức Chúa Jêsus Christ. Họ quấn cái áo màu điều quanh hai vai của Ngài. Họ đan cái mão gai rồi đặt nó lên đầu Ngài. Họ đặt cây sậy vào tay Ngài. Chúa Jêsus là Vua của người Do thái, và họ mặc cho Ngài Ngài giống như một vị vua rồi họ nhiếc móc Ngài. Họ khom mình xuống trước mặt Ngài, và họ chào Ngài như chào một vì vua. Một cảnh tượng chế giễu thật thê thảm.
(Minh họa: Há đây chẳng phải là điều thế gian vẫn còn làm cho Chúa Jêsus không? Thế gian vẫn dành cho Ngài sự phục vụ qua môi miệng và cúi mình xuống nhiếc móc trước mặt Ngài, nhưng họ không yêu mến Ngài. Họ chẳng tôn trọng Ngài. Họ chẳng muốn sống cho Ngài. Họ chẳng kể gì đến Lời của Ngài, Ý chỉ Ngài hay đường lối của Ngài. Thế gian đã dành cho Ngài sự phục vụ bằng môi miệng, nhưng chẳng chút yêu mến nào dành cho Ngài trong tấm lòng của họ.
Thật là đáng buồn, nhưng điều nầy cũng đang xảy ra trong hội thánh. Có những người tự xưng nhận mình biết Ngài qua lời lẽ họ thốt ra, nhưng họ đang chối bỏ Ngài bằng đời sống mà họ đang sống. Người ta có thể xưng điều gì mặc ý, nhưng đời sống của một người nói lớn tiếng hơn lời xưng nhận của họ! Như có người đã từng nói: “Những gì bạn làm lớn tiếng đến nỗi tôi không nghe thấy những điều bạn đang nói”. Khi chúng ta xưng mình yêu mến Chúa Jêsus mà từ chối không hầu việc Ngài, chúng ta chẳng tốt gì hơn mấy tên lính kia, chúng đang chế giễu Nhà Vua trong ngày họ đóng đinh Ngài trên thập tự giá).

C. Đánh đòn (câu 19) – Số người nầy chưa thỏa mãn khi quất Chúa Jêsus cây roi. Họ chẳng hài lòng khi chế giễu Ngài và nhạo báng Ngài. Theo câu 17, họ đã đặt một chiếc mão gai lên đầu Ngài. Và, trong hành động nghiệt ngã sau cùng, họ đã lấy cây sậy mà họ đặt trong tay Ngài rồi họ đánh Ngài với cây sậy ấy rồi họ khạc nhổ nơi mặt Ngài. Khi đó, họ lột cái áo màu điều kia ra khỏi Ngài, làm tét ra những vết thương đã bắt đầu khô đi, rồi dẫn Đấng Christ người đầy máu me, tan nát, bị sỉ nhục đi đến chỗ khiến Ngài phải chết mất.
(Minh họa: Tôi nhắc tới chỗ nầy vì đây là một hình ảnh nói tới ân điển của Đức Chúa Trời đang hành động. Bạn cũng cần phải nhớ, đây là Đức Chúa Trời mà họ đang đánh đập. Đây là Đức Chúa Trời mà họ đang chế giễu. Đây là gương mặt của Đức Chúa Trời mà họ khạc nhổ trên đó. Đây là Đức Chúa Trời mà họ đang ngược đãi!
Ngài đã dựng nên chính hạng người nầy. Ngài có quyền phép để hủy diệt họ chỉ bởi suy nghĩ về sự hủy diệt đó thôi. Nếu như Ngài muốn, Ngài có thể triệu tập vô số thiên sứ đến đánh trận cho Ngài và tiêu diệt những kẻ ngược đãi Ngài, Mathiơ 26:53.
Một lần nữa, tôi nói cho bạn biết rằng Ngài đã gánh chịu mọi sự ấy vì cớ tình yêu của Ngài dành cho dân sự Ngài. Ngài đã chịu đựng sự xấu hổ, đau đớn và sự chế giễu vì Ngài yêu thương tôi! Tôi chúc phước cho danh của Ngài vì Ngài yêu thương tôi dường ấy!
Chúa Jêsus đã mặc chiếc áo màu điều trong đại sảnh của Philát vào buổi sáng hôm ấy. Trước khi ban ngày kết thúc, Chúa Jêsus mặc lấy tội lỗi màu điều của tôi trên thập tự giá, II Côrinhtô 5:21; Êsai 1:18! Chúa Jêsus đã đội chiếc mão gai vào sáng hôm ấy. Mão gai đó làm biểu tượng cho sự rủa sả của tội lỗi, Sáng thế ký 3:17-19. Trước khi ban ngày kết thúc, Chúa Jêsus sẽ mang lấy toàn bộ gánh nặng sự rủa sả của tội lỗi. Ngài sẽ trả món nợ tội lỗi và bảo đảm rằng, một ngày kia, thế gian sẽ được giải phóng ra khỏi sự rủa sả ấy, Rôma 8:20-22).
I. Chúa Jêsus và mấy tên lính
II. CHÚA JÊSUS VÀ SIMÔN (câu 21)
(Minh họa: Sau khi hoàn tất xong trò chơi nghiệt ngã của họ, mấy tên lính đã dẫn Chúa Jêsus đến đồi Gôgôtha để thực hiện việc hành hình Ngài. Khi họ bắt con đường đi đến đồi Gôgôtha, Chúa Jêsus không thể vác được cây thập tự của Ngài. Lịch sử cho chúng ta biết rằng người bị kết án bị buộc phải vác cây thập tự nặng nề, gọi là “patibulum”, ra tới chỗ hành quyết. Patibulum bị cột ngang bờ vai của người bị kết án, và người bị buộc phải vác lấy khúc gỗ nặng nề nầy. Thích ứng với tình trạng yếu sức do bị hành hạ suốt đêm, sự ngược đãi nơi tay của những kẻ vu cáo Ngài, và từ chỗ mất máu vì sự đánh đập, Chúa Jêsus quá yếu sức không thể vác nổi cây thập tự đến đồi Gôgôtha. Mấy tên lính Lamã đã túm lấy một người có tên là Simôn từ trong đám đông rồi buộc người phải vác thập tự giá của Chúa chúng ta).
A. Sự lựa chọn của người – Chẳng có nói gì nhiều về người có tên là Simôn nầy. Mọi sự chúng ta biết về ông ta, ấy là ông đến từ Cyrene, là địa điểm nằm ở châu Phi, gần Libya ngày nay. Chúng ta biết ông có mặt tại thành Jerusalem vào dịp Lễ Vượt Qua, sự có mặt ấy cho thấy rằng ông là một người Do thái đã đến với thành phố nầy đặng thờ phượng. Có lẽ ông cùng đi với gia đình mình. Người nầy, một người châu Phi, có lẽ là một người da màu có mặt ở đó đặng thờ phượng. Ông ta đã đến để dâng Chiên Con Lễ Vượt Qua và ông ta đã đến mặt đối mặt với Chiên Con của Đức Chúa Trời! Theo như bản tường trình, đây chẳng phải là dịp để nhóm lại đâu!
Lời của Chúa cho chúng ta biết họ đã “bắt” Simôn phải vác thập tự giá của Chúa. Từ ngữ nầy có ý nói tới “buộc phải làm việc công khai”. Luật pháp Lamã cho phép binh lính Lamã bắt những người dân phải lo liệu những công việc nhất định nào đó thay cho họ. Dân chúng bị buộc phải vâng lời, hoặc họ sẽ bị kết án tử hình. Chúa Jêsus nhắc tới cách làm nầy ở Mathiơ 5:41.
B. Sự xấu hổ của người – Hành động thấp hèn nhất có thể hình dung được là phải vác thập tự giá của người bị kết án. Không một tên lính nào khom mình xuống làm công việc ấy. Không một người Do thái nào muốn làm công việc đó, nhưng đặc biệt là nhằm vào ngày sửa soạn cho Lễ Vượt Qua.
Vác lấy thập tự giá làm ô nhục một người và khiến họ bị ô uế về mặt nghi thức. Đối với Simôn, Lễ Vượt Qua đã qua đi khi ông chạm đến thập tự giá.
Từ ngữ “bắt” đem theo với nó ý tưởng nói tới sức mạnh. Có lẽ đây là lời đe dọa chết chóc khiến cho người châu Phi nầy phải vác lấy thập tự giá ấy rồi đem nó đi. Bất chấp mọi hoàn cảnh, từ giây phút Simôn chạm đến thập tự giá đó, ông là một nhân vật đã được đánh dấu!
(Minh họa: Đúng là một bức tranh cho những ai trong chúng ta xưng mính là Cơ đốc nhân! Có phải bạn nhìn biết rằng thập tự giá của Đấng Christ vẫn còn được gắn với xấu hổ không, Hêbơrơ 12:2? Chúa Jêsus đã phán rằng một trong những dấu hiệu của môn đồ Ngài, ấy là họ đã có một sự bằng lòng và ước ao muốn vác lấy một cây thập tự, Mathiơ 16:24. Phân đoạn Kinh thánh nầy nói rõ rằng người nào theo Chúa Jêsus phải bằng lòng tự chối bỏ mình, vác lấy thập tự giá mà theo Ngài.
Làm ơn lưu ý rằng những bước chơn của Chúa Jêsus đã dẫn Ngài đến sự chết trước khi chúng đưa Ngài đến sự vinh hiển! Cũng thực như thế cho bạn và tôi! Việc gánh lấy thập tự giá của Ngài sẽ đem lại sự quở trách của thế gian, I Côrinhtô 1:18, nhưng một sự bằng lòng vác lấy thập tự giá vì sự vinh hiển của Ngài sẽ đem lại nụ cười của Đức Chúa Trời!
Giống như một tội phạm bị kết án, bị buộc phải vác lấy thập tự giá của mình cho thế gian thấy rằng người ấy thuận phục theo các phép tắc mà người ấy từng nổi loạn nghịch cùng, cũng vậy: người tín đồ được lại sanh phải mang lấy thập tự giá của Đấng Christ. Điều nầy tỏ ra cho thế gian thấy rằng chúng ta giờ đây phục theo luật lệ của Đấng mà chúng ta từng nổi loạn nghịch cùng.
Điều nầy có ý nói rằng chúng ta phải ra khỏi thế gian. Nhất định điều nầy có ý nói rằng chúng ta phải sống khác biệt với thế gian trong suy tưởng của mình, trong tư thế sinh sống của chúng ta, trong các hình thái giải trí mà chúng ta đang có, trong cách chúng ta xử sự ở các mối quan hệ của chúng ta, v.v…
Một phần của sự xấu hổ của Đấng Christ là sự chúng ta học đòi giống như Ngài thay vì ưa thích thế gian! Thậm chí đừng giả vờ vác lấy thập tự giá của bạn trừ phi bạn đã đem từng lãnh vực của cuộc sống đầu phục đối với ý chỉ của Đức Chúa Trời. Có phải Đức Chúa Trời đẹp lòng với mọi sự bạn đang làm không? Có phải bạn đang mời Chúa Jêsus đến nghe âm nhạc của bạn không? Có phải bạn đang mời Ngài cùng xem TV với bạn không? Có phải bạn đưa Ngài cùng đến chỗ hẹn hò? Có phải Chúa Jêsus hiệp với bạn trong mọi sự bạn đang làm không? Nếu không, thì ai đó cần phải thay đổi, và ấy chẳng phải là Ngài đâu!)
C. Ơn cứu rỗi của người – Ấy chẳng phải là tình cờ mà Simôn và gia đình ông đi ngang qua thành Jerusalem vào thời điểm quí báu ấy đâu. Chính sự tể trị của Chúa cho phép con đường của ông phải đến chỗ có Đức Chúa Jêsus Christ ở đó. Tôi không thể hiểu được hết mọi việc làm của Chúa chúng ta, nhưng tôi biết rằng Ngài có một phương thức đem người ta đến với Ngài để họ được cứu. Có nhớ người đàn bà bên giếng không, Giăng 4:4-29? Có nhớ hoạn quan Êthiôpi không, Công Vụ các Sứ Đồ 8:26-39? Rõ ràng, Đức Chúa Trời đã sử dụng biến cố nầy để tỏ ra ơn cứu rỗi cho Simôn. Đức Chúa Trời đã đưa người tìm kiếm đến với Cứu Chúa!
Chúng ta không biết khi nào thì Simôn đạt đến mức nhìn biết Chúa, nhưng chúng ta có từng lý do để tin ông đã đạt đến đó. Mác nhắc đến “Alécxanđơ và Ruphu”. Hai cái tên nầy rất quen thuộc với những Cơ đốc nhân mà ông viết thư gửi cho họ. Về sau, khi Phaolô kết thúc thư tín ông viết cho người thành Rôma, ông nhắc tới Ruphu và mẹ của Ruphu. Sâu xa hơn nữa, ông đã xem bà chính là mẹ ruột của ông, Rôma 16:13. Rõ ràng là sự việc đã xảy ra trong tấm lòng của Simôn và gia đình ông khi họ nhìn thấy Chúa chịu chết tại đồi Gôgôtha trong ngày ấy. Bất luận điều gì đã xảy ra, Đức Chúa Trời đã sử dụng biến cố nầy để thay đổi Simôn và gia đình ông cho đến đời đời! Đúng là một bức tranh nói tới ân điển của Đức Chúa Trời!
(Minh họa: Giống như Simôn, tôi xác định rõ sự việc của riêng mình khi tôi đến đối mặt với Chúa. Tôi không biết điều chi về Ngài, nhưng Ngài đang tìm kiếm tôi! Khi tôi gặp Ngài, Ngài buộc tôi phải vác lấy thập tự giá mà theo Ngài. Khi tôi vác, Ngài cứu lấy linh hồn tôi!
Ngài có thể làm y như thế cho bạn đấy! Nếu bạn chưa bao giờ được cứu bởi ân điển, hãy đến với Chúa Jêsus hôm nay và tin cậy Ngài để được cứu, là điều mà linh hồn bạn đang có cần! Ngài có thể thay đổi đời sống của bạn và thay đổi cõi đời đời của bạn nữa đấy!)
I. Chúa Jêsus và mấy tên lính
II. Chúa Jêsus và Simôn
III. CHÚA JÊSUS VÀ ĐỒI SỌ (các câu 22-25)
A. Đây là địa điểm của những sự lựa chọn (các câu 22-23) – Khi Chúa Jêsus đến tại đồi Gôgôtha, họ đã cho Ngài uống “rượu hòa với một dược”. Đây là một hỗn hợp gây mê. Thức uống nầy không được ấn định để yên ủi cho kẻ bị kết án; nó được ấn định cho sự thuận tiện đối với mấy tên lính. Họ chẳng quan tâm Chúa Jêsus và những người khác phải chịu khổ như thế nào, mấy tên lính cho họ uống vì nó giữ cho các tù phạm khỏi vùng vẫy khi bị đóng đinh trên thập tự giá.
Khi Chúa Jêsus được cho uống thứ làm cho lý trí phải mê muội đi, Ngài từ chối. Chúa Jêsus đã đến với thế gian nầy để chịu chết vì tội lỗi, Giăng 18:37. Ngài đã đến để uống cho hết cái chén thạnh nộ của Cha Ngài, Mác 14:36; Êsai 51:17. Ngài đã đến để chịu chết thay cho người vô tội, I Phierơ 3:18; II Côrinhtô 5:21.
Chúa Jêsus muốn làm những điều Ngài sắp sửa phải làm với một lý trí trong sáng. Chúa Jêsus bằng lòng gánh chịu mọi thương khó theo phần xác, về lý trí, về thuộc linh và về tình cảm của thập tự giá, mà không cần một sự khuây khỏa nào khác. Ngài ao ước chịu đựng cái giá đầy đủ của án phạt mà tôi đáng phải chịu. Ngài đã chịu như thế vì tôi và tôi ngợi khen Ngài vì sự ấy.
B. Đây là một chỗ rất tàn nhẫn (câu 24) – Chiều sâu sự băng hoại của con người được tỏ ra rõ ràng trong ngày ấy tại đồi Gôgôtha. Sau khi mấy tên lính đóng đinh Chúa Jêsus trên thập tự giá, họ ngồi xuống nơi chơn Ngài rồi bóc thăm lấy của cải duy nhứt mà Ngài đã có trên thế gian nầy, chính cái áo trên lưng Ngài.
Tất nhiên, điều nầy đã làm ứng nghiệm các lời tiên tri đời xưa, Thi thiên 22:18. Điều nầy cũng tỏ ra rõ ràng kẻ dữ là như thế nào!?! Mấy tên lính cứng lòng nầy đã xây con mắt mù lòa và một lỗ tai điếc vào những đau khổ của mấy người bị kết án đang treo trên các cây thập tự trong ngày ấy.
(Minh họa: Chúng ta đừng quá cứng rắn nhắm vào mấy tên lính. Hầu hết chúng ta đều tỏ ra cùng một loại tàn nhẫn trong đời sống của chúng ta. Chúng ta sống cho bản thân mình với chẳng có suy nghĩ nào dành cho những người ở chung quanh chúng ta. Nếu chẳng ai chạm đến chúng ta hay gia đình của chúng ta, thì thực sự chẳng có gì quá quan trọng đối với chúng ta.
Phải, người ta đang đi thẳng vào Địa Ngục, nhưng đấy chẳng phải là vấn đề của chúng ta. Rốt lại, cả gia đình tôi đã được cứu. Phải, người ta đang đau khổ, nhưng tôi có quá nhiều việc phải làm nên chẳng quan tâm chi về sự ấy. Phải, tôi biết có công việc thuộc linh cần phải làm, song bạn không thể trông tôi dính dáng vào mà chi. Rốt lại, tôi cũng có nhiều việc mà tôi muốn làm lắm. Đấy chính là loại thái độ mà mấy tên lính kia đã có. Thái độ ấy không bao giờ là sự thực của một con cái được Đức Chúa Trời cứu chuộc!)
C. Đây là một chỗ để đóng đinh vào thập tự giá (các câu 24-25) – Kinh thánh là một quyển sách đáng kinh ngạc. Tất cả bốn trước giả Tin Lành đều viết về sự Chúa bị đóng đinh trên thập tự giá, nhưng bản thân sự việc không hề được mô tả. Một trong những biến cố quan trọng nhất trong lịch sử của con người được mô tả đơn sơ bằng câu nói: “và họ đóng đinh Ngài trên cây thập tự”.
Trong khi Kinh thánh không cung ứng cho chúng ta nhiều trong cách mô tả, Kinh thánh khiến cho chúng ta nhìn biết rằng sự đóng đinh Chúa Jêsus trên thập tự giá ở đồi Gôgôtha là một sự kiện rất quan trọng. Thực vậy, thập tự giá là trung tâm điểm của toàn bộ lịch sử. Ngày Chúa Jêsus bị đóng đinh trên thập tự giá là ngày mà tội lỗi và Satan bị đánh bại đến đời đời cho hết thảy người nào tin. Sự Chúa bị đóng đinh trên thập tự giá là một biến cố xứng đáng cho cái nhìn kỹ càng hơn.
Frederick Farrar, trong quyển Cuộc Đời Của Đấng Christ, mô tả sự đóng đinh trên thập tự giá theo cách nầy.
Một cái chết khi bị đóng đinh trên thập tự giá dường như gộp hết mọi đau khổ và sự chết có thể có về sự kinh khiếp và rùng rợn – choáng váng, gò bó, khát, đói, không ngủ, sốt rất khó chịu, xấu hổ công khai, dày vò liên tục, kinh hãi, các vết thương có dựng tính gây chết chóc – tất cả sẽ dồn tới cực điểm mà ở đó tù phạm sẽ gánh chịu hết thảy, nhưng tất cả chỉ ngắn ngủi tới điểm sẽ làm cho người tù phạm kia mất hết sự tỉnh biết.
Tình trạng không còn tự nhiên đã làm cho từng giây phút thật là đau đớn; các mạch máu tan nát hết và mấy sợi gân bị chằng ra với nổi đau không dứt; các vết thương, thật đau đớn, dần dần hoại tử [khi một nạn nhân phải mất mấy ngày mới chết]; các động mạch – đặc biệt ở đầu và bao tử – bắt đầu phình ra và bị ép quá tải với máu, và trong khi từng nổi đau cứ tiếp tục dần dần tăng thêm, rồi thêm vào với chúng là cơn khát không thể chịu được cứ tràn dâng lên, và mọi biến chứng của phần xác như thế nầy gây ra một sự kích động và lo sợ ở bên trong, nó tạo ra viễn cảnh tử vong – về sự chết, là kẻ thù vô danh, người nào tiếp cận nó sẽ rùng vai – mang dáng dấp của sự giải thoát ngọt ngào và thấm thía.
Có một việc rất rõ ràng. Những cuộc hành hình ở thế kỷ đầu tiên không giống như trong thời hiện đại, vì họ không tìm kiếm một cái chết mau chóng, không đau đớn, cũng không duy trì một lượng phẩm giá nào dành cho hạng tội phạm. Ngược lại, họ đã tìm kiếm một sự hành hại đầy đau thương hoàn toàn sỉ nhục kẻ tội phạm. Và thật là quan trọng khi chúng ta hiểu rõ vấn đề nầy, vì nó giúp cho chúng ta nhìn biết sự thương khó trong cái chết của Đấng Christ. (Vol. 2 [New York: E. P. Dutton, 1877], pp. 403–4) MacArthur, J. (1989). Matthew (257). Chicago: Moody Press.
Cái chết của Chúa Jêsus ở Naxarét và hai tên cướp trong ngày ấy chỉ là công việc thường nhật đối với người Lamã. Cái chết của ba người Do thái không hề tạo ra một đốm sáng nào trên màn hình rađa của Rôma. Tôi muốn bạn nhìn biết đang khi cả đất không nhìn thấy tầm quan trọng của những gì đã xảy ra trong ngày ấy, sự chết của Đức Chúa Jêsus Christ đã tạo ra các tin tức trên Thiên đàng!
Đức Chúa Cha đã chứng kiến cái chết của Đức Chúa Con, và Ngài lấy làm vừa lòng. Án phạt của tội lỗi đã được trả và hạng tội nhân sẽ được cứu. Sự đóng đinh Đức Chúa Jêsus Christ trên thập tự giá đã mở ra một con đường đến với Đức Chúa Trời sẽ không bao giờ bị đóng lại. Giờ đây, hết thảy những ai đến với Ngài bởi đức tin, tin cậy sự chết trên thập tự giá và sự sống lại của Ngài ra khỏi kẻ chết là sự trông cậy duy nhứt được cứu của họ, sẽ được cứu cho đến đời đời bởi ân điển của Đức Chúa Trời. (Minh họa: Rôma 10:9; 13)
Phần kết luận: Tôi sẽ nói nhiều về thập tự giá khi chúng ta tiếp tục nghiên cứu các biến cố ở Mác 15. Một cái nhìn thoáng qua ba bối cảnh nầy, khi Chúa Jêsus bắt con đường đến với thập tự giá, đều được phép hôm nay. Bạn nghĩ gì khi bạn nghiên cứu những sự nầy?
Có phải bạn được nhắc nhớ về tình yêu của Ngài dành cho bạn không? Có phải bạn đầy dẫy với ngợi khen và cảm tạ dành cho Cứu Chúa là Đấng đã phó chính mình Ngài cho bạn để bạn có thể nhận được sự sống và sự cứu rỗi không? Hôm nay há chẳng phải là thì thuận tiện cho bạn sấp mình xuống trước mặt Ngài, thờ lạy Ngài vì tình yêu của Ngài, nổi khổ của Ngài và món quà lớn lao của Ngài dành cho bạn không?
Có phải bạn được nhắc nhớ đến các lời thề bước theo Ngài mà bạn đã lập với Ngài không? Có phải bạn được nhắc nhớ đến các lời thề mà bạn đã phá vỡ không? Có một thời gian khi bạn yêu mến Chúa Jêsus. Bạn yêu mến Ngài đủ để đến với nhà của Ngài, cầu nguyện và đọc Lời của Ngài như bạn đáng phải có. Bây giờ, bạn đã lạc xa khỏi Ngài. Bạn không còn ở gần nữa. Nhưng, sau khi nghe về tình yêu và sự hy sinh của Ngài đã nhắc cho bạn nhớ đến chỗ mà bạn cần phải có mặt. Hãy đến với Ngài hôm nay và để cho Ngài tha thứ bạn, phục hồi bạn đến chỗ mà bạn cần phải ở với Ngài.
Có phải các bối cảnh nầy đã khiến cho bạn phải thấy rõ mình là một tội nhân, rõ ràng là đối với bạn Chúa Jêsus đã chịu chết để cứu bạn ra khỏi tội lỗi của bạn không? Chẳng lẽ bạn không chịu đến với Ngài hôm nay sao? Tại sao hôm nay không là cái ngày thôi không thối lui nữa mà hãy đến với Chúa. Hôm nay có thể là ngày cứu rỗi của bạn. Nếu Ngài đang kêu gọi bạn đến, bạn cần phải nghe theo tiếng của Ngài và làm theo như Ngài đang bảo bạn phải làm.

Mác 15:1-15: "SỰ CHỐI BỎ NHÀ VUA"



Mác 15:1-15
SỰ CHỐI BỎ NHÀ VUA
Phần giới thiệu
: Phân đoạn nầy đưa chúng ta một bước gần hơn với sự chết của Đấng Christ trên thập tự giá ở đồi Gôgôtha. Ngài đã bị bắt bởi các kẻ thù của Ngài. Ngài bị xét xử bởi các cấp lãnh đạo tôn giáo và bị kết án. Sự xét đoán của Ngài dựa trên bằng cớ của các nhân chứng dối và những lời vu cáo xằng bậy. Người Do thái đã kết án tử hình Chúa Jêsus, và đấy là chỗ mà chúng ta đang hướng tới khi câu chuyện nầy được mở ra.
Trong phân đoạn nầy, chúng ta sẽ nhìn thấy Chúa Jêsus bị chối bỏ bởi các cấp lãnh đạo tôn giáo trong xứ Israel. Chúng ta sẽ thấy Ngài bị chối bỏ bởi nhà cầm quyền Rôma. Chúng ta hoàn toàn nhìn thấy Ngài bị chối bỏ bởi thường dân nữa.
Phân đoạn nầy tỏ ra trọng tâm bản chất của con người. Phân đoạn Kinh thánh nầy minh chứng rằng con người, trong trạng thái tự nhiên của họ, hoàn toàn là một tội nhân hư hoại, có khả năng thù hận và rất là gian ác. Phân đoạn Kinh thánh nầy minh chứng rằng con người, trong trạng thái tự nhiên của họ, là kẻ thù của Đức Chúa Trời, y như Rôma 8:7 đã chép vậy. Phân đoạn Kinh thánh nầy là một tấm gương chỉ ra tấm lòng của con người, tỏ ra trọn vẹn bản chất và tình trạng của nó.
Có tù trưởng Phi châu kia đến viếng qua trạm truyền giáo. Treo ở bên ngoài túp lều của vị giáo sĩ trên cây là một tấm kính nhỏ. Vị tù trưởng nầy nhìn vào tấm kính đó và thấy hình ảnh mình phản chiếu lại, hoàn toàn với các điểm kinh khủng và các đường nét đầy hăm dọa. Ông ta nhìn vào gương mặt gây sợ hãi của mình rồi lui lại trong kinh hãi, hô lên: “Người nào trông ghê khiếp trên cái cây ấy thế?”
Vị giáo sĩ đáp: “Ồ, không phải trên cây đâu. Tấm kính đang phản chiếu chính gương mặt của ông đó”.
Người châu Phi kia không tin điều đó cho tới khi ông ta cầm tấm kính trong tay mình. Ông ta nói: “Ta phải có tấm kính. Ông có chịu bán nó không?”
Vị giáo sĩ nói: “Ồ, tôi không muốn bán nó đâu”.
Nhưng vị tù trưởng kia đã nài nĩ cho tới chừng vị giáo sĩ đầu hàng, với suy nghĩ rằng thà bán nó đi để tránh rắc rối.
Vì vậy, ông ta ra giá và cầm lấy tấm kính đó. Ông ta hô lên: “Ta sẽ không để cho nó soi vào mặt ta nữa”, ông ta ném nó xuống đất và nó bễ tan thành nhiều mãnh.
Đây quả là điều mà thể chế tôn giáo đã làm cho Chúa Jêsus. Họ sẽ đập vỡ tấm kính của linh hồn họ! Vì thế, họ đã đóng đinh Ngài trên một cây thập tự, chỉ để thấy rằng việc ấy chỉ phóng đại phản ảnh thêm lên mà thôi.
Phân đoạn Kinh thánh nầy là một tấm kính của chính linh hồn chúng ta. Khi chúng ta nhìn vào Chúa Jêsus và những điều người ta đã làm cho Ngài trong ngày ấy, chúng ta có thể nhìn thấy chính bản thân mình. Một là chúng ta nhìn thấy chúng ta đang ăn ở với đức tin mình trong Chúa Jêsus. Hay, chúng ta nhìn thấy rằng chúng ta đang phạm tội chối bỏ nhà Vua.
Tôi muốn rao giảng về Sự Chối Bỏ Nhà Vua. Tôi muốn bạn nhìn thấy Nhà Vua Bị Chối Bỏ Bởi Các Thầy Tế Lễ; Nhà Vua Bị Chối Bỏ Bởi Philát; và Nhà Vua Bị Chối Bỏ Bởi Dân Chúng. Việc chủ yếu tôi muốn bạn nhìn thấy là những gì bạn đã làm với Chúa Jêsus. Mọi người trong phân đoạn Kinh thắng nầy đã chối bỏ Chúa Jêsus. Phải biết chắc rằng điều đó không phải là sự thực đối với bạn. Chúng ta hãy cùng nhau xem xét các lẽ thật đầy thách thức nầy hôm nay.
I. NHÀ VUA BỊ CHỐI BỎ BỞI CÁC THẦY TẾ LỄ (câu 1)
+ Ngôn ngữ trong câu 1 cho thấy rằng các biến cố nầy đã xảy ra vào lúc sáng sớm, giống như mặt trời vừa mới mọc vậy. Từ ngữ “lúc ban mai” dịch một từ chỉ thời gian giữa 3 và 6 giờ sáng, hay canh tư trong ban đêm.
Vì vậy, không bao lâu khi bình minh bắt đầu ló dạng, các thầy tế lễ cả triệu tập tất cả giới cầm quyền của Israel lại để hợp pháp hóa các quyết định mà họ đã đạt được suốt đêm hôm ấy. Các câu 55-65 cho chúng ta biết rằng, sau khi Chúa Jêsus bị bắt, Ngài bị đưa ra xét xử bất hợp pháp trước mặt thầy cả thượng phẩm. Trong cuộc xét xử nầy, Chúa Jêsus bị tố cáo về tội phạm thượng rồi bị kết án tử hình. Khi ấy, Ngài bị đánh đòn và ngược đãi bởi các cấp lãnh đạo tôn giáo và cảnh vệ của đền thờ. Buổi nhóm lúc sáng sớm nầy đã được tổ chức chỉ vì một mục đích; số người nầy muốn gài thêm ý thức hợp pháp cho quyết định bất hợp pháp mà họ đã đạt được trong cả đêm.
Trong chặng được thử thách nầy, người Do thái đã hỏi Chúa Jêsus chính câu hỏi mà họ đã hỏi Ngài suốt cả đêm. Luca 22:66-71 cho chúng ta biết rằng một lần nữa họ đã hỏi Chúa Jêsus không biết Ngài có phải là Con của Đức Chúa Trời hay không!?! Một lần nữa, Chúa Jêsus đã trả lời quả thật Ngài là Con của Đức Chúa Trời. Đối với người Do thái, điều nầy khẳng định Ngài là một kẻ phạm thượng, và họ tái khẳng định bản án tử hình kia.
+ Israel còn ở dưới quyền thống trị của người Lamã. Họ được phép một lượng tự do để xử lý các trường hợp và tuyên bố các bản án, song họ không được phép đưa ra án tử hình. Quyền nầy thuộc về một mình Tổng đốc Lamã. Người Do thái đã kết án tử hình Chúa Jêsus, nhưng họ không được quyền thi hành án, vì vậy họ đã trói Chúa Jêsus như một tội phạm rồi dẫn Ngài sang Tổng đốc Bôntu Philát, là Tổng đốc Lamã.
+ Khi người Do thái đến trước mặt Philát, họ biết họ không thể tố cáo Chúa Jêsus về tội phạm thượng được. Họ biết Philát sẽ không bao giờ xen vào cuộc tranh luận về tôn giáo của người Do thái. Vì vậy, khi họ đưa Chúa Jêsus đến với Philát, họ đã đổi các án nghị nghịch Ngài. Luca 23:2 chép: “Họ bèn khởi cáo Ngài rằng: Chúng tôi đã thấy người nầy xui dân ta làm loạn, cấm nộp thuế cho Sê-sa, và xưng mình là Đấng Christ, là Vua”. Số người gian ác nầy vốn biết rõ rằng điều nầy sẽ làm cho Philát phải chú ý và giúp họ hoàn tất vấn đề độc ác của họ: ấy là họ muốn thấy Chúa Jêsus bị đóng đinh trên cây thập tự.
+ Những hành động của số người tôn giáo nầy dạy chúng ta một lẽ thật rất quan trọng. Lẽ thật ấy là đây: tôn giáo không có chỗ cho Đức Chúa Jêsus Christ. Các cấp lãnh đạo tôn giáo của người Do thái đã có một việc tốt đang diễn ra. Sâu xa trong đời sống hàng ngày của xứ Israel, họ đã nắm giữ hết mọi quyền bính trên dân sự. Họ tạo ra số tiền rất lớn qua việc mua và bán đang diễn ra tại Đền Thờ. Họ rất giàu có. Họ rất có quyền lực. Họ tin rằng họ sống đẹp lòng Đức Chúa Trời. Số người nầy nghĩ họ được xưng công bình trong mọi hành vi của họ. Họ tin tôn giáo của họ là đủ rồi! Người Do thái đã chối bỏ Chúa Jêsus vì tôn giáo chẳng có chỗ cho Đức Chúa Jêsus Christ.
+ Sự thực là, không một hệ thống tôn giáo nào có chỗ cho Chúa Jêsus. Tôn giáo bao hàm hết mọi dính dáng của con người và sinh hoạt của con người. Tôn giáo luôn luôn dựa vào những việc làm ngoại tại. Mặt khác, Cơ đốc giáo theo Kinh thánh, luôn luôn dựa vào đức tin. Tôn giáo tìm cách tiếp cận Đức Chúa Trời trên cơ sở những gì con người có thể làm. Cơ đốc giáo theo Kinh thánh tìm cách tiếp cận những gì Đức Chúa Trời đã làm cho chúng ta qua Đức Chúa Jêsus Christ. Có một sự khác biệt rất lớn giữa hai phía!
Kinh thánh trong như pha lê về vấn đề nầy: không một ai được cứu bởi việc làm, Êphêsô 2:8-9; Rôma 3:20; Tít 3:3-5. Kinh thánh cũng trong như pha lê khi cho rằng sự cứu rỗi dựa theo đức tin nơi một mình Đấng Christ, Giăng 1:12; 3:15-16, 36; 6:40, 47; Công Vụ các Sứ Đồ 16:31; Rôma 10:9; Mác 16:16; Rôma 5:1-5; 1 Giăng 5:10-13. Sự cứu rỗi không hề nói tới những gì con người có thể làm; sự cứu rỗi ấy luôn luôn nói về những điều Chúa Jêsus đã làm rồi. Tin Lành là một sứ điệp ngay thẳng và rõ nét. Sứ điệp ấy có thể được tóm tắt trong mấy câu Kinh thánh nầy: Rôma 4:25 và I Côrinhtô 15:1-4. Cái điều thực sự là vấn đề chính là loại thắc mắc đơn sơ nầy đây: Có phải bạn tin sứ điệp Tin Lành nói tới sự chết và sự sống lại của Đấng Christ không? Có phải bạn tin Chúa Jêsus và chỉ một mình Chúa Jêsus để linh hồn bạn được cứu không?
+ Những việc làm như bố thí, cầu nguyện, việc lành, rửa tội, đi nhà thờ, v.v…, tất cả đều là những việc tốt đấy, song chẳng một thứ nào trong chúng có quyền cứu rỗi linh hồn cả. Tôn giáo có quyền khiến cho người ta ra đáng kính và tề chỉnh, nhưng nó không có quyền làm cho bất kỳ ai được hòa lại với Đức Chúa Trời.
Mặt khác, sự cứu chuộc theo Kinh thánh có quyền làm cho người ta ra thánh. Nó có quyền cứu rỗi linh hồn, bảo đảm cho linh hồn và làm thay đổi số phận đời đời của một người. Tìm kiếm Đức Chúa Trời theo cách của con người luôn luôn kết quả trong sự rủa sả đời đời ở Địa Ngục. Đến với Đức Chúa Trời qua đức tin nơi Đức Chúa Jêsus Christ luôn luôn kết quả trong chỗ linh hồn được cứu và vinh hiển đời đời trên Thiên Đàng!
+ Vì vậy, bạn được cứu chưa? hay, có phải bạn đang bị hư mất?
I. Nhà Vua Bị Chối Bỏ Bởi Các Thầy Tế Lễ
II. NHÀ VUA BỊ CHỐI BỎ BỞI PHILÁT (các câu 2-5)
+ Khi Chúa Jêsus đến trước mặt Philát, quan tổng đốc hỏi Chúa Jêsus về lời tố cáo Ngài là Vua của người Do thái. Câu trả lời cung ứng cho Philát điều chi đó khác biệt với câu trả lời Ngài đưa ra cho người Do thái. Khi người Do thái hỏi Chúa Jêsus về lai lịch của Ngài là Con của Đức Chúa Trời và là Đấng Mêsi, Chúa Jêsus chỉ nói: “Ấy là Ta đấy”! Khi Philát hỏi Chúa Jêsus không biết Ngài có phải là Vua dân Giuđa hay không, Chúa Jêsus đáp lại bắng câu nói: “Thật như lời”.
Câu nói nầy có ba cách giải thích khả thi. Thứ nhứt, Chúa Jêsus đã nói: “Ngươi đã tiếp thu đúng đấy! Ta là Đấng đó”. Thứ hai, Chúa Jêsus đã nói: “Đấy là điều mà ngươi phải quyết định đó”. Thứ ba, Chúa Jêsus đã nói: “Ta là Vua của người Do thái, nhưng ta không phải là vua theo cách ngươi hiểu đâu. Nước của ta không thuộc về đời nầy. Quyền bính của ta đến từ trên cao và ngươi hay dân chúng không thể cáo giác ta được”. Cách giải thích sau cùng nầy, tôi nghĩ, là cách giải thích rất chính xác. Cách ấy được khẳng định bởi những gì Giăng đã ghi lại ở Giăng 18:33-36.
+ Tại sao có sự khác biệt chứ? Tại sao Chúa Jêsus nói rõ với dân Do thái và tại sao Ngài không nói rõ với Philát chứ? Người Do thái có từng lý do để tin rằng Chúa Jêsus là Đấng mà Ngài hiện xưng nhận. Họ có Kinh Thánh Cựu Ước với luật lệ và những lời tiên tri nói trước sự đến của Đấng Mêsi. Chúa Jêsus đã làm ứng nghiệm từng điều trong số chúng từng chữ một. Ngài đã minh chứng Ngài là Đấng Mêsi của họ. Thực vậy, thậm chí Ngài còn vượt quá những lời tiên tri xa xưa ấy nữa, (Minh họa: Êsai 35:4-6; Mathiơ 11:4-6).
Philát không có các thông tin nầy. Ông ta là dân Ngoại và ông ta không biết Chúa Jêsus là ai. Ông ta không nhìn thấy các phép lạ, ông ta cũng không nghe thấy lời của Ngài. Vào buổi sáng hôm ấy, Philát đã mặt đối mặt với Chúa Jêsus, và khi đó, ông ta có một quyết định phải đưa ra. Philát đã được ban cho cơ hội gặp gỡ Chúa Jêsus trong mối quan hệ tiêng tư, đức tin, và ông ta đã thất bại!
+ Trước khi chúng ta đi sâu vào cuộc gặp gỡ nầy giữa Chúa Jêsus và Philát, chúng ta cần phải biết đôi chút về nhân vật đầy quyền lực nầy, ông ta là người để khiến cho Chúa Vinh Hiển bị đóng đinh trên thập tự giá.
+ Đôi chút cần phải được biết về đời sống và sự nghiệp của Bôntu Philát trước khi ông ta được chỉ định làm Tổng đốc xứ Palestine. Sự thể cho thấy ông ta đã nắm giữ một loạt các chức vụ về chính trị và quân sự khi ông ta trèo lên nấc thang chính trị của người Lamã.
+ Kinh thánh và những câu chuyện lịch sử xa xưa nói tới đời sống và các hành động của Philát phác họa ra ông ta vốn là kẻ bất tài và độc đoán.
+ Philát là Tổng đốc xứ Palestine từ năm 26-36SC.
+ Theo Josephus, sử gia của người Do thái, Philát chịu trách nhiệm về nhiều sự lộn xộn đánh dấu sự nghiệp của ông ta là Tổng đốc xứ Palestine. Trong một cơ hội, ông ta đã cho phép binh lính của mình vào thành Jerusalem với những ngọn cờ mang hình ảnh của Caesar. Điều nầy sỉ nhục dân Do thái và gần như dẫn tới một cuộc nổi dậy đổ máu. Vào một dịp khác, ông ta cho sung công tài khoảng “Corban” của Đền Thờ để chi vào cống dẫn nước mà ông ta đang cho xây dựng. Tài khoản “Corban” chỉ được sử dụng duy nhứt cho sự phục vụ Đức Chúa Trời mà thôi. Người Do thái đã chống đối sự sỉ nhục nầy, họ bị binh lính có vũ trang đánh đập dữ lắm. Theo Luca 13:1, Philát đã giết một số người Galilê khi họ đến dâng của lễ.
+ Philát đã mất địa vị của ông ta khi ông ta ra lịnh tấn công một số người Samari, họ nhóm lại tại núi Gerizim là một phần trong sinh hoạt tôn giáo của họ.
+ Philát là một người bị tác động bởi sự tham lam về quyền bính. Ông ta bị lèo lái bởi một sự khát khao không hề thỏa lòng về quyền lực chính trị. Dường như ông ta sống vì địa vị và tiếng tăm. Ông ta đặt sự nghiệp của mình trước mọi người và mọi sự. Ông ta đã sống để tự tôn cao bản thân mình. Cả cuộc đời của ông ta đều nhắm về Philát.
+ Sau khi bị truất quyền làm Tổng đốc, Philát đã bị đày sang Bắc Âu, ở đó truyền khẩu cho biết rằng ông ta đã tự tử. Khi ông ta mất quyền bính, địa vị, và sự kiêu ngạo đi, ông ta chẳng còn gì để mà sống với nữa.
+ Đây là con người lấy cái tôi làm trọng mà Chúa Jêsus đã đối mặt với vào cuộc xét xử lúc sáng sớm hôm ấy.
+ Sau khi học biết đôi chút về Philát, chúng ta hãy nhìn vào cuộc gặp gỡ của ông ta với Chúa Jêsus.
+ Câu 3 cho chúng ta biết rằng người Do thái đã đưa ra đủ loại cáo giác nghịch cùng Chúa Jêsus, nhưng Chúa đứng ở đó tuyệt đối im lặng. Ngài đã từ chối không biện hộ cho bản thân mình chống lại những lời dối trá của họ. Ngài đã sống y như Êsai đã nói: “Người bị hiếp đáp, nhưng khi chịu sự khốn khổ chẳng hề mở miệng. Như chiên con bị dắt đến hàng làm thịt, như chiên câm ở trước mặt kẻ hớt lông, người chẳng từng mở miệng” Êsai 53:7.
+ Ở các câu 4 và 5 Philát đã nổ lực buộc Chúa Jêsus phải tự biện hộ cho mình. Một lần nữa, Chúa Jêsus chỉ đứng đó trong sự im lặng vương giả. Sự Ngài từ chối không trả lời đã khiến cho Philát phải ngạc nhiên. Philát đã kinh ngạc, nhưng ông ta tin rằng Chúa Jêsus là vô tội đối với bản án đưa ra nghịch lại Ngài.
+ Đấy là mọi chi tiết mà Mác cung ứng cho chúng ta về lần gặp gỡ của Philát với Chúa Jêsus, nhưng các trước giả Tin Lành khác điền vào các khoảng trống cho chúng ta.
+ Luca cho chúng ta biết rằng Philát chuyển Chúa Jêsus sang cho Vua Hêrốt, Luca 23:6-12. Hêrốt đã tra vấn Chúa Jêsus và binh lính của ông ta nhiếc móc Chúa Jêsus, còn Chúa Jêsus thì từ chối không trả lời cho Hêrốt. Hêrốt chuyển Chúa Jêsus trở lại cho Philát. Hêrốt cũng tin về sự vô tội của Đấng Christ, Luca 23:15.
+ Giăng cho chúng ta biết rằng Philát khi ấy đưa Chúa Jêsus vào cung điện của mình rồi tra gạn Ngài theo cách riêng, Giăng 18:33-37. Chúa Jêsus đã trả lời cho câu hỏi của Philát như sau: “Nước của ta chẳng phải thuộc về thế gian nầy...”. Sau khi tra xét Chúa Jêsus, Philát thấy những lời tố cáo của người Do thái thực chất chẳng có gì khác hơn là thù hận và ganh ghét, Mác 15:10. Ông ta biết rõ Chúa Jêsus vô tội, Giăng 18:38, và ông ta thực hiện các bước hòng phóng thích Chúa Jêsus.
+ Toàn bộ cuộc gặp gỡ nầy giữa Chúa Jêsus và Philát dẫn tới những điều được nói ra ở Giăng 18:37-38. Ở câu 37, Chúa Jêsus chỉ tuyên bố lai lịch của Ngài để dạy cho Philát nhìn biết lẽ thật. Ở câu 38, Philát xấc xược nói: “Lẽ thật là cái gì?” rồi ra khỏi Chúa Jêsus, xây lưng mình lại với lẽ thật và ơn cứu rỗi. Philát hoàn toàn để cho người Do thái bắt lấy Chúa Jêsus rồi đóng đinh Ngài trên cây thập tự.
Philát bất chấp những gì ông ta biết rõ đấy là sự thật. Ông ta bất chấp lời cảnh báo rõ ràng đến từ vợ mình, Mathiơ 27:19. Ông ta bất chấp sự thực là người Do thái đang nói dối và chỉ muốn Chúa Jêsus phải chết đi vì các ý đồ riêng của họ. Philát bất chấp lẽ thật vì ông ta muốn duy trì địa vị của mình với Rôma và quyền lực của mình trên dân sự.
Philát là người vốn yếu đuối, nhát gan chỉ biết quan tâm đến việc duy trì địa vị và quyền lực của mình hơn là ông ta quan tâm đến việc nhìn biết lẽ thật. Ông ta chỉ lo làm sao giữ cho người Do thái được hạnh phúc hơn là ông ta quan tâm đến việc bảo vệ cho một người vô tội. Philát là một tên hèn nhát, ông ta chỉ biết đặt địa vị, sự thịnh vượng, sự kiêu ngạo và con người mình trước linh hồn mình. Philát có thể được cứu, song ông ta quá hèn nhát không sấp mình xuống trước mặt Chúa Jêsus, tin theo Ngài để được cứu. Philát đã chối bỏ Chúa Jêsus vì tính hèn nhát không có chỗ nào dành cho Đấng Christ.
+ Tôi e rằng có nhiều người giống như Philát trong thế giới của chúng ta ngày nay. Không có nhiều người sở hữu được địa vị hay quyền bính mà Philát đã có đâu, nhưng nhiều người phải đối mặt với lẽ thật Đức Chúa Jêsus Christ là ai kìa. Nhiều người đã đối mặt với sự hiểu biết chắc chắn rằng Ngài là con đường duy nhứt dẫn tới Thiên Đàng, Giăng 14:6; Công Vụ các Sứ Đồ 4:12. Họ đến mặt đối mặt với lẽ thật, nhưng họ quá đỗi sợ hãi đến nỗi không dám bước vào một đời sống theo Chúa Jêsus. Thay vì thế, họ bám vào tội lỗi của họ, loại đời sống trống vắng và cõi đời đời thê thảm của họ mà thôi.
Một số người chối bỏ Chúa Jêsus vì họ sợ họ không thể sống cho Ngài. Có người chối bỏ Chúa Jêsus vì họ sợ mọi điều người khác sẽ nói về họ. Một số người chối bỏ Chúa Jêsus vì họ yêu mến tội lỗi của họ hơn là họ yêu mến lẽ thật. Đến cuối cùng, tất cả những ai chối bỏ Chúa Jêsus, họ làm vậy vì chính những lý lẽ mà Philát đã chối bỏ Ngài. Họ chối bỏ Ngài vì họ là những kẻ hèn nhát. Họ chối bỏ Chúa Jêsus là vì họ sợ!
+ Cần phải thật can đảm khi đến với Chúa Jêsus! Cần phải can đảm khi công nhận rằng bạn là một tội nhân. Cần phải can đảm khi công nhận rằng bạn bất lực không tự cứu lấy mình được. Cần phải can đảm khi công nhận rằng bạn cần đến Đức Chúa Jêsus Christ. Cần phải can đảm khi sấp mình xuống trước mặt Ngài và kêu cầu Ngài để được cứu. Cần phải can đảm khi đứng nghịch với thế gian và sống cho Ngài. Cần phải can đảm khi sống khác biệt trong một thế giới đòi hỏi ai nấy phải sống theo cùng một cách thế. Cần phải can đảm khi sống cho Đức Chúa Trời trong một thế giới do ma quỉ kềm chế!
Người ta nhìn vào những Cơ đốc nhân rồi nói rằng chúng ta thật yếu ớt và Chúa Jêsus là cặp nạng. Được thôi, cho phép tôi chỉ ra tình trạng tôi là một kẻ què quặt thuộc linh và tôi không thể bước đi nếu không có Ngài. Tôi là kẻ què quặt thuộc linh và tôi cần cặp nạng để tựa người vào. Tôi cần sự trợ giúp! Tôi không thể lo cho mình được!
+ Tôi hoan nghênh từng tín hữu hôm nay, người nào đang sống cho Đức Chúa Jêsus Christ. Đối với người nào có lòng dạn dĩ để sống cho Chúa Jêsus, bạn đang có sự kính trọng của tôi. Tôi hoan nghênh anh chị em của tôi, những người đang sống giống như những ngọn đèn trong thế giới tối tăm nầy.
Có nhiều người xưng mình yêu mến Chúa Jêsus, song thực sự họ rất giống như Philát, họ sống để làm đẹp lòng họ. Họ sống theo các luật lệ của họ; họ làm theo ý họ muốn; họ phục vụ Đức Chúa Trời khi mọi việc phù hợp với kế hoạch của họ. Phần nhiều người trong số đó, họ chẳng khác gì với thế giới ở chung quanh họ. Hội thánh, Kinh thánh, cầu nguyện, chứng đạo, bố thí, là mọi thứ mà người khác đang làm. Họ là những kẻ nắm lấy sự thuộc linh và họ chẳng dâng gì lại cho Chúa mà họ xưng mình đang phục vụ. Họ là những kẻ hèn nhát. Họ là những kẻ giả vờ sáo rỗng. Họ là hạng người, giống như Philát, sẽ xây khỏi lẽ thật rồi rơi vào cõi đời đời không có Đấng Christ. (Minh họa: Mathiơ 7:21-23; Giăng 6:40 – Tin theo Chúa Jêsus thì phải có lòng can đảm thực sự mới được!)
I. Nhà Vua Bị Chối Bỏ Bởi Các Thầy Tế Lễ
II. Nhà Vua Bị Chối Bỏ Bởi Philát
III. NHÀ VUA BỊ CHỐI BỎ BỞI DÂN SỰ (các câu 6-15)
+ Philát đã tra gạn Chúa Jêsus và tin chắc rằng Ngài vô tội. Vì vậy, Philát giở trò tìm cách thử và phóng thích Chúa Jêsus nếu không có một phản ứng dữ dội nào về mặt chính trị. Theo câu 6, tha cho đoàn dân đông một tù phạm là thông lệ của Philát trong sự lựa chọn của chính họ. Trong sự giám sát của ông ta, ông ta đang có một tội phạm tên là Baraba, câu 7.
+ Baraba là tù phạm chính trị. Hắn bị bắt vì tội “nổi loạn”“giết người”. Baraba là một nhà cách mạng. Hắn ta đang tìm cách lật đổ nhà cầm quyền Lamã. Hắn bị bắt và giờ đây chỉ còn chờ chết trên thập tự giá của người Lamã mà thôi.
Philát đưa ra cho đoàn dân đông một sự lựa chọn giữa Đức Chúa Jêsus Christ và Baraba, các câu 8-10. Ông ta nghĩ dân chúng sẽ chọn Chúa Jêsus hòa bình-yêu thương thay vì chọn tên Baraba bạo lực kia. Ông ta tin dân chúng sẽ chọn Đấng đã làm lành và ngay thẳng hơn là chọn kẻ chỉ làm điều gian ác.
Philát đã lầm! Philát đã thả mấy viên súc sắc xuống và ông ta đã thua cuộc. Các cấp lãnh đạo người Do thái đã khuấy đảo đoàn dân đông và khiến họ phải chọn Baraba hơn là chọn Chúa Jêsus, câu 11. Khi họ đưa ra sự lựa chọn rồi, Philát hỏi họ ông ta sẽ xử thế nào với Chúa Jêsus, câu 12. Họ kêu gào hắn đáng phải bị đóng đinh trên thập tự giá, câu 13. Một lần nữa Philát thổ lộ niềm tin của ông ta nơi sự vô tội của Đấng Christ và hỏi đám đông kia lý do tại sao, câu 14. Dân chúng đã rơi vào chỗ gần như là đóng băng và họ yêu cầu sự chết của Chúa Jêsus bằng cách đóng đinh Ngài trên thập tự giá, câu 14. Thậm chí họ đã thề một sự rủa sả giáng trên chính mình họ, Mathiơ 7:25. Philát nhượng bộ trước ý muốn của dân chúng rồi để cho họ mặc ý với Chúa Jêsus, câu 15.
+ Nhiều sự rao giảng đã được thực hiện về đám đông nầy và sự lựa chọn của họ đối với Baraba. Tôi đã nghe và đã từng rao giảng, rằng một số người trong đó là những kẻ đã từng hô to “Hôsana” chỉ một tuần trước đó. Có lẽ điều nầy không thực đâu.
Đám đông nầy có mặt ở đó vì họ biết rõ rằng Baraba sắp sửa phải chết mất. Là một nhà cách mạng, họ đang tìm cách đánh bại Rôma, có lẽ Baraba là một nhân vật được lòng người với hạng người phổ thông. Hắn giống như một vị anh hùng đối với số người nầy. Những người ủng hộ Chúa Jêsus không biết Ngài đã bị bắt nữa, vì vậy họ chẳng có thì giờ để tập trung lại mà biện hộ cho Ngài.
Đám đông trong ngày ấy chẳng quan tâm gì đến Chúa Jêsus; họ muốn Baraba. Họ không tin nơi Chúa Jêsus. Dường như Ngài không giống với loại Mêsi mà họ đang trông mong. Mặt khác, Baraba còn hơn những gì họ tưởng về một Đấng Mêsi nữa. Vì vậy, họ đã chối bỏ Chúa Jêsus và đã chọn Baraba từ chỗ vô tín của họ. Đám dân đông đã từ chối Chúa Jêsus vì vô tín chẳng có một chỗ nào cho Đấng Christ hết.
+ Lịch sử ghi lại rằng tên đầy đủ của Baraba là “Jesus Bar-Abbas”. Tên nầy có nghĩa là “Jesus Con của các tổ phụ”. Vào ngày nầy, đám dân đông đã có một sự lựa chọn giữa “Jesus Con của các tổ phụ” hay “Jesus Con của Đức Chúa Trời”. Nếu họ hành động chiếu theo đức tin, sự lựa chọn sẽ đi hướng khác, nhưng khi bị mù quáng bởi sự vô tín, họ đã chọn con đường của thế gian thay vì Con Đường Đến Với Đức Chúa Trời.
+ Nhiều người trong thế giới của chúng ta rất giống với đám đông đã xét đoán Chúa Jêsus kia. Vây ở chung quanh là hạng người đã chọn thế gian thay vì Chúa mỗi ngày. Chúng ta nhìn thấy điều đó trong những lần tuyển cử của chúng ta. Chúng ta nhìn thấy sự ấy trong các hành động của nhà cầm quyền chúng ta. Chúng ta nhìn thấy điều đó trong các sự chúng ta lựa chọn bộ môn giải trí. Chúng ta nhìn thấy sự ấy trong phương thức người ta sống đời sống của họ mỗi ngày. Đại đa số không luôn luôn đúng đâu! Đại đa số đã chối bỏ Chúa Jêsus. Đại đa số đã xét đoán Ngài phải chết. Đại đa số đã đứng nghịch Ngài và đại đa số đã sai lầm.
Đại đa số vẫn còn nghịch với Chúa Jêsus ngày nay! Thế gian, như một tổng thể chối bỏ Ngài qua sự vô tín hoàn toàn. Thế gian bất chấp Lời của Đức Chúa Trời. Thế gian bất chấp những đời sống được thay đổi khi họ đã được chuộc. Bất chấp sự ban hiến rời rộng ơn cứu rỗi. Đám đông hư mất chọn tội lỗi của nó hơn là chọn sự cứu rỗi của Đức Chúa Trời. Đám đông hư mất chọn Địa Ngục thay vì chọn Thiên đàng. Đám đông hư mất từ chối không tin theo Chúa Jêsus. (Minh họa: Mathiơ 7:13-14)
+ Giống như ngày Chúa Jêsus bị đóng đinh trên thập tự giá, đại đa số từ chối không tin theo Ngài. Sự chối bỏ nầy là điều sẽ phán xét tội nhân hư mất, Giăng 8:24. Sự chối bỏ không tin theo Chúa Jêsus như thế nầy là điều sẽ đẩy người ta vào Địa Ngục, Giăng 3:18, 36.
Chỉ vì đoàn dân đông từ chối không đến với Chúa Jêsus, không có nghĩa là bạn phải chạy theo họ. Bạn có thể đi ngược lại xu hướng. Bạn có thể tin theo Chúa Jêsus, bạn có thể được cứu và không vào trong Địa Ngục. Bạn không phải đi theo đám đông đến bờ vực mà chi! Bạn có thể được cứu, nếu bạn có lòng dạn dĩ sống thật khác biệt!
Phần kết luận: Nhà Vua đã đến với Israel y như các tiên tri đã nói Ngài sẽ đến. Ngài đã làm ứng nghiệm từng lời tiên tri. Ngài đã hoàn tất mọi sự Đức Chúa Trời đã phán Đấng Mêsi sẽ hoàn tất. Chúa Jêsus chính xác là Đấng mà Ngài đã từng xưng nhận.
Nhà Vua nầy đã đến với dân sự của Ngài và Ngài bị họ chối bỏ. Giăng 1:11. Vì họ đã chối bỏ Ngài, họ bị Đức Chúa Trời xét đoán. Xứ sở của họ đã bị hủy diệt. Linh hồn của họ bị kết án trong Địa Ngục.
Đừng chối bỏ Chúa Jêsus! Nếu Ngài đang chìa tay ra cho bạn, kêu gọi bạn đến với Ngài, làm ơn đừng từ chối lời kêu gọi của Ngài. Hãy đến đang khi Ngài còn kêu gọi; hãy đến và được cứu!

Mác 14:54; 66-72: "SỰ SA NGÃ VÀ ƠN THA THỨ CỦA MỘT THÁNH ĐỒ PHẠM TỘI"



Mác 14:54; 66-72
SỰ SA NGÃ VÀ ƠN THA THỨ CỦA MỘT THÁNH ĐỒ PHẠM TỘI
Phần giới thiệu
: Phần nghiên cứu Tin Lành Mác của chúng ta đã đưa chúng ta đến với một trong những phân đoạn thê thảm và đáng buồn nhất trong Kinh thánh. Mỗi lần tôi đọc câu chuyện nầy, tôi được nhắc nhớ đến một thánh đồ của Đức Chúa Trời sao mà sa ngã một cách trầm trọng và nhanh chóng như thế. Tuy nhiên, trong câu chuyện buồn rầu nầy nói tới sự sa ngã của Simôn Phierơ, tôi thấy một sứ điệp nói tới hy vọng và sự khích lệ. Nghe dường như là kỳ cục lắm, nhưng có một phước hạnh rất lớn trong phân đoạn Kinh thánh nầy nếu chúng ta để cho Đức Chúa Trời tỏ ơn phước ấy ra cho chúng ta.
Mỗi lần tôi giảng đến câu chuyện nầy, hoặc nghe câu chuyện ấy được rao giảng, phần nhấn mạnh luôn luôn là sự thất bại của con người cũ Simôn. Hôm nay, tôi muốn xem xét các biến cố nầy từ một nhận định khác kìa. Tôi muốn chúng ta hãy nhìn vào câu chuyện nầy qua thấu kính tha thứ của Đức Chúa Trời.
Phierơ đã làm buồn lòng Đức Chúa Trời, và ông đã làm Ngài buồn lòng trong một cách thức to lớn, hết thảy chúng ta đều biết rõ sự ấy. Tôi không tin rằng bất cứ thánh đồ nào khác của Đức Chúa Trời trong Kinh thánh từng phạm tội trầm trọng hay sa ngã khó chịu giống như Simôn Phierơ đã phạm phải trong trường hợp nầy. Ngày cả David với tội tà dâm, tội giết người, và những lời nói dối của ông đã không làm buồn lòng Đức Chúa Trời tồi tệ giống như Simôn Phierơ đã làm. Tội lỗi của Phierơ, theo ý tôi, thậm chí che khuất cả những tội lỗi mà Giuđa Íchcariốt đã phạm. Lý do tôi nói như thế là vì Giuđa là một kẻ bị hư mất phạm tội chống nghịch Chúa. Phierơ là một người đã được cứu, và tội lỗi của người đã được cứu thì tệ hại hơn là tội lỗi của người bị hư mất!
Tôi đã nói có hy vọng trong phân đoạn nầy, và có đấy! Câu chuyện của Phierơ không kết thúc với việc ông làm buồn lòng Đức Chúa Trời đâu. Mặc dù Phierơ đã làm buồn lòng Đức Chúa Trời theo một cách thức rất to tát, ông đã được tha thứ, ông đã được phục hồi, và ông đã được Đức Chúa Trời đại dụng trong một cách thức rất cả thể. Vì vậy, trong khi câu chuyện của Phierơ phải xử lý với một tội lỗi rất tàn ác và đáng khinh, tội lỗi ấy cũng chỉ ra ân điển và ơn tha thứ của Đức Chúa Trời Toàn Năng. Hôm nay, chúng ta sẽ xem xét cả hai mặt tích cực và tiêu cực của câu chuyện Phierơ. Chúng ta sẽ nhìn vào sự sa ngã của ông và lý do tại sao điều đó xảy ra, kế đó chúng ta sẽ xem xét ơn tha thứ và sự phục hồi của Đức Chúa Trời.
Câu chuyện của Phierơ rất quan trọng đối với chúng ta, vì hết thảy chúng ta thấy mình trong chỗ thất bại hết lúc nầy đến khi khác. Khi chúng ta thất bại, thật là yên ủi khi biết rằng Cha chúng ta ở trên trời yêu thương vô hạn, thương xót không dứt, và tha thứ tuyệt đối. Thật là phước hạnh khi biết rằng, chỉ vì chúng ta té ngã, không có nghĩa là chúng ta bị loại bỏ đâu. Giống như sự thực chúng ta đã làm buồn lòng Chúa và phạm tội nghịch lại Ngài, không có nghĩa là chúng ta bị định phải kết thúc cuộc sống mình theo tình trạng ấy. Tôi muốn bạn nhìn biết rằng có hy vọng cho thánh đồ của Đức Chúa Trời khi phạm tội.
Tôi nguyện rằng Chúa sẽ phán với tấm lòng chúng ta để thách thức, để cảnh cáo và để khích lệ chúng ta vì sự vinh hiển của Ngài. Nếu bạn đang gặp rắc rối, tôi muốn bạn nhìn thấy rằng có một con đường để thoát ra khỏi. Nếu bạn bị dẫn vào chỗ rối rắm, tôi muốn bạn có khả năng công nhận các tấm biển cảnh báo. Nếu bạn từng được phục hồi, tôi muốn nhắc cho bạn nhớ rằng ân điển của Đức Chúa Trời luôn dư dật trong đời sống của bạn.
Tôi muốn giảng luận về đề tài Sự Sa Ngã và Ơn Tha Thứ Của Một Thánh Đồ Phạm Tội. Chúng ta hãy cùng nhau xem xét các phương diện trong sự sa ngã của Phierơ và ơn tha thứ hôm nay.
I. PHIERƠ VÀ SỰ CHỐI BỎ CỦA ÔNG
+ Tại thời điểm nầy thật là hay khi chúng ta bước vào bối cảnh. Chúa Jêsus vừa mới bị bắt bởi các cấp lãnh đạo người Do thái. Họ được sự trợ giúp của binh lính Lamã trong việc bắt lấy Ngài. Chúa Jêsus bị đưa đến cung điện của thầy cả thượng phẩm, ở đó Ngài chịu xét xử thật xấu hổ, trong đó cấp lãnh đạo Do thái đã làm mọi sự họ có thể để bảo đảm rằng Ngài phải nhận lấy án tử hình.
Khi Chúa Jêsus bị bắt, ai nấy trong vòng môn đồ của Ngài đã bỏ chạy trong nổi sợ hãi vì mạng sống của họ, câu 50. Hai trong số họ, là Phierơ và người kia mà nhiều người tin là Giăng, đi theo đoàn dân đông khi họ bắt lấy Chúa Jêsus đưa về xét xử.
Khi hai môn đồ nầy đến trong cung điện của thầy cả thượng phẩm, Giăng, có sự quen biết với thầy cả thượng phẩm nên mới được phép vào trong cung điện với Chúa Jêsus, Giăng 18:15. Giăng đi trở ra, trao đổi với phụ nữ canh cửa rồi thuyết phục người nầy để cho Phierơ vào trong nữa, Giăng 18:15.
Ở điểm nầy, Giăng biến mất khỏi câu chuyện và Phierơ trở thành tâm điểm của câu chuyện. Đồng thời, chính chỗ ông được cho vào sân cung điện của thầy cả thượng phẩm mới trở thành phần khởi sự mọi nan đề của Phierơ trong đêm đó. Giăng là người góp phần bất đắc dĩ cho sự sa ngã của Phierơ.
+ Sự việc nầy dẫn tới chỗ phân đoạn Kinh thánh gốc của chúng ta khởi sự hôm nay. Khi Phierơ ngồi bên ngọn lửa trong sân để tự sưỡi ấm mình, câu 54, có một phụ nữ đến gần ông. Giăng 18:17 cho chúng ta biết rằng đây chính là người phụ nữ đứng giữ cửa. Cô ta đến gần Phierơ và nhận ra ông là một trong các môn đồ của Chúa, câu 67.
Bạn có thể tưởng tượng cô ta không đến gần ông và thì thầm lời tố cáo kia với Phierơ. Cô ta đã nói ra những gì cô ta đã nói với một giọng mà ai nấy đứng gần đó cũng nghe thấy.
+ Khi Phierơ nghe lời lẽ của cô ta, ngay lập tức ông chối không có bất kỳ một quan hệ nào với Chúa Jêsus. Ông thốt ra lời chối lớn tiếng như sau: “Ta không biết, ta không hiểu ngươi nói chi”. Thế rồi ông bỏ đi, câu 68.
Không bao lâu sau đó, khi Phierơ đưa ra lời chối thứ nhứt nầy, tiếng gà gáy có thể nghe thấy được ở trong sân, câu 68. Tiếng gà gáy là một lời cảnh báo đối với Phierơ.
Chúa Jêsus đã nói rất rõ ràng với ông rằng trước khi gà gáy hai lượt, Phierơ sẽ chối Chúa của ông ba lần, câu 30. Khi Phierơ nghe thấy tiếng gà gáy, ông đã bước ra khỏi sân đó. Ông đã tự dời mình ra khỏi nguy hiểm.
Ở điểm nầy, Phierơ không còn suy nghĩ đến tiếng gà gáy nữa, ông chỉ cố gắng làm cho ai nấy đừng chú ý đến ông. Tôi có thể tưởng tượng ông đang đứng quanh đâu đấy tìm cách nhìn lơ đãng; chỉ tìm cách đừng kéo sự chú ý nhắm vào mình.
+ Nổ lực của Phierơ muốn che giấu mình đã thất bại. Không lâu sau khi ông bước đi, có tớ gái khác nhìn thấy ông rồi kêu lên: “Người nầy cũng là bọn đó!”, câu 69. Một lần nữa, cô ta nói ra lớn tiếng để kéo sự chú ý của mọi người đứng trong tầm nghe thấy, Mathiơ 26:71.
Phierơ đã chối bất kỳ quan hệ nào với Chúa Jêsus lần thứ hai. Theo Mathiơ 26:72, lần nầy Phierơ đã chối Chúa với một lời “thề”. Điều nầy có ý nói rằng Phierơ đã thề trước mặt Đức Chúa Trời rằng ông không quen biết Chúa Jêsus. Có thể ông đã nói đại loại như vầy: “Ta thề trước mặt Đức Chúa Trời rằng ta không biết Jêsus người Naxarét! Ta không biết người nầy!” Thật là thê thảm! Lần nầy Phierơ không những nói dối, ông đã nói dối gấp bằng hai. Ông nói dối khi ông nói rằng ông không biết Chúa Jêsus và ông nói dối khi ông thề rằng ông không nói dối!
Theo Luca, khi Phierơ đối mặt với người tớ gái thứ nhì, một người cũng đến gần ông và nhận ra ông là một trong các môn đồ của Chúa, Luca 22:58. Vì vậy, sự nóng nảy cứ tiếp đến! Phierơ đã bị nhận ra. Dân sự trong sân đang nhìn chằm chằm vào ông trong lúc nầy. Bí mật của ông đã bị bật mí. Lai lịch của ông đã bị tỏ ra rồi.
Phierơ đã nổi giận, bối rối, thất bại và lúng túng. Còn hơn các sự ấy nữa, ông đang lo sợ. Ông biết rõ mạng sống của ông đang treo lơ lửng ở đó.
+ Phierơ đã ở lại một mình trong một thời gian ngắn. Luca 22:59 cho chúng ta biết rằng một giờ đồng hồ đã trôi qua. Lúc bấy giờ, chắc chắn Phierơ đã thấy thoải mái rồi. Có thể ông nghĩ số người tập trung ở đó đã quên phứt ông rồi. Ông không thể sai sót nữa.
+ Phierơ bị tiếp cận lần thứ ba. Ông bị tố cáo là một trong số các môn đồ một lần nữa, câu 70. Giọng nói của Phierơ đã xác nhận ông xuất thân từ xứ Galilê, nơi mà từng người trong số các môn đồ của Chúa đã gọi là quê hương, trừ ra Giuđa.
+ Rõ ràng, nhóm người nầy đã được người bà con của gã có tên là Manchu hướng dẫn. Hắn ta là kẻ mà Phierơ đã chém đứt tai khi Chúa Jêsus bị bắt. Người bà con nầy dẫn một số người đến gần Phierơ với lời tố cáo thứ ba nầy, Giăng 18:26. Có thể họ đã nói: “Nè, ta biết người rồi! Ngươi là kẻ đã tấn công Manchu!”
Nếu bạn xuất thân từ phía Nam, bạn biết nói như thế có nghĩa gì rồi. Bạn có thể đi về hướng Tây hay đi lên phía Bắc rồi trao đổi với ai đó và họ ngay lập tức muốn biết bạn xuất thân từ đâu. Giọng nói của bạn đang chỉ ra bạn đấy!
Khi Phierơ nghe lời tố cáo nầy, ông đã thất thần. Phierơ bắt đầu “rủa mà thề”, câu 71. Điều nầy không có nghĩa là Phierơ đang sử dụng lối nói du côn, tục tằn. Điều nầy không có ý nói rằng Phierơ đã ăn nói giống như nhiều người đang sống ở chung quanh chúng ta. Điều nầy không có nghĩa là Phierơ có “cái miệng ngu xuẫn”. Điều nầy không có ý nói Phierơ đã khởi sự sử dụng lời lẽ có tính cách chửi rủa.
Cái điều Phierơ đã nói còn tệ hại hơn việc sử dụng lối nói theo kiểu du côn. Những điều Phierơ đã nói còn tệ hại hơn việc chửi rủa tục tằn hay cả hai. Những gì Phierơ đã nói là làm cho danh Chúa ra phàm đến đất.
Khi Kinh thánh nói rằng Phierơ khởi sự “rủa mà thề”. Nói như thế có nghĩa là ông xem Đức Chúa Trời như một nhân chứng tối hậu cho mấy lần chối bỏ của ông về sự không biết Chúa Jêsus. Phierơ đã nói ra một việc đại loại như sau: “Nguyện Đức Chúa Trời Toàn Năng kết tội tôi đi địa ngục nếu tôi nói dối! Nếu những điều tôi nói với các ngươi là dối trá, nguyện Đức Chúa Trời cất mạng sống của tôi ngay bây giờ đi”.
+ Phierơ đang đứng trên vùng đất nguy hiểm. Ông đã mau chóng sa ngã và ông đã té ngã quá đà. Ông đã đến một nơi mà ở đó ông chẳng chút kính sợ Đức Chúa Trời. Trước hết, Phierơ nói dối. Tiếp đến ông thốt ra lời nói dối gấp bằng hai để che đậy lời nói dối thứ nhứt. Kế đó ông tìm cách minh chứng lời nói dối của mình bằng cách làm cho danh của Đức Chúa Trời ra hư không. Chỉ có nhờ vào ân điển của Đức Chúa Trời nên Phierơ mới không bị Chúa đánh ở chỗ ông đứng đêm hôm ấy.
I. Phierơ và sự chối bỏ của ông
II. PHIERƠ VÀ CÁC LÝ DO CỦA ÔNG
+ Phierơ không hề tin rằng mình đã làm những việc ông đã làm. Chúa Jêsus đã cố gắng nói cho ông biết, nhưng ông đã từ chối không chịu tin theo Chúa. Phierơ vấp ngã và vấp ngã nhanh chóng!
Tuy nhiên, ông đã đứng ở đó! Con người nầy là lãnh đạo của các môn đồ. Con người nầy đã thề rằng ông sẽ chịu chết vì Chúa Jêsus trước khi ông chối Ngài, câu 31. Con người nầy đã cố gắng bảo vệ Chúa Jêsus bằng lưỡi gươm của mình trong một thời gian ngắn trước đó, câu 47. Đứng ở đó chính là Phierơ đã đưa ra những lời rủa sả trên bản thân mình và thề trước mặt Đức Chúa Trời rằng ông chẳng biết gì về Đức Chúa Jêsus Christ. Phân đoạn Kinh thánh chỉ ra rằng ông cứ rủa mà thề.
+ Phierơ không hề tin rằng điều nầy có thể xảy ra cho ông. Ông sẽ không bao giờ tin rằng ông sẽ đến một chỗ như thế trong đời sống của ông. Điều gì đã xảy ra để đưa ông đến chỗ nầy thế? Đấy là những gì tôi muốn nghiên cứu trong một vài phút đây.
+ Có một số dấu hiệu rõ ràng cho chúng ta thấy ông đã hướng tới rắc rối trong đời sống thuộc linh của ông. Các dấu hiệu nầy cũng có thể tỏ ra sự hiện diện của các nan đề thuộc linh trong chính đời sống của chúng ta nữa.
+ Đây là một vài dấu hiệu góp phần như một lời cảnh báo cho Phierơ.
+ Tự tín – Sau khi Chúa Jêsus và các môn đồ Ngài dự xong Lễ Vượt Qua vào buổi chiều trước đó, Chúa Jêsus nói cho người của Ngài biết rằng hết thảy họ sẽ lìa bỏ Ngài trong chính đêm đó, câu 27. Phierơ đã phát biểu và nói cho Chúa Jêsus biết rằng phần còn lại trong số họ sẽ rời đi, nhưng ông thì không bao giờ, câu 28. Phierơ tin rằng ông đã đạt tới một chỗ trong đời sống thuộc linh của mình, ở đó thất bại là bất khả thi! Đấy là một chỗ rất là nguy hiểm.
Tôi chỉ muốn nhắc cho bạn nhớ rằng Kinh thánh cảnh cáo chúng ta thật nhiều lần về suy nghĩ chúng ta đã đạt tới một chỗ mà ở đó chúng ta được miễn trừ không thất bại. (Minh họa: Châm ngôn 16:18; Châm ngôn 29:23; I Côrinhtô 10:12)
Đừng bao giờ nghĩ rằng những gì đã xảy ra cho Phierơ không thể xảy ra cho bạn. Bạn sẽ không thể lường được các hoàn cảnh mà ở đó bạn sẽ chối Chúa, Phierơ cũng rơi vào đó đấy. Sự thực là, bạn có khuynh hướng phạm tội giống như bất cứ ai. Bạn có một tư tưởng, một hành động, một lời nói sống giống y như Phierơ đã sống. Chính vì ân điển của một mình Đức Chúa Trời mà chúng ta không thất bại giống như Phierơ và nhiều người khác.
Đồng thời, đấy là lý do tại sao chúng ta cần phải rất cẩn thận về cách thức chúng ta xét đoán những việc mà người khác làm. Chúng ta cần phải học biết mở rộng tình yêu thương, ân điển và sự tha thứ thay vì mãi xét đoán.
+ Xem thường – Mặc dù Phierơ đã được Chúa nói rõ những điều sẽ xảy ra, Phierơ đã chối bỏ Lời của Chúa, câu 31. Mặc dù Chúa Jêsus đã trưng dẫn lời tiên tri trong Cựu Ước, Xachari 13:7, để minh chứng mọi điều Ngài đã phán sẽ xảy ra, Phierơ đã chối bỏ nó. Ông đã xem thường trong chỗ ông đứng với sự chống đối công khai Lời rõ ràng của Đức Chúa Trời.
Câu 31 chép rằng Phierơ đã “thưa cách quả quyết hơn”. Điều nầy có ý nói rằng ông đứng đối diện với Chúa Jêsus, và trong lời lẽ ấy, ông nói với Ngài rằng những điều Chúa Jêsus đã phán sẽ không bao giờ xảy ra! Giống như cầm quyển Kinh thánh lên rồi nói: “Tôi không quan tâm quyển sách nầy nói cái gì, điều đó sẽ không hề xảy đến với tôi đâu!”
Một dấu hiệu khác nữa mà một người tin Chúa nhắm tới rắc rối là khi họ từ chối không chịu nghe theo Lời của Đức Chúa Trời. Bạn có thể làm theo ý của mình, nhưng Lời của Đức Chúa Trời sẽ luôn luôn đúng, thích ứng với Quyển Sách. Nếu bạn muốn sa vào rối rắm, hãy đứng trong sự xem thường quyển Kinh thánh nầy. Bất kỳ người tín đồ nào cũng đều sa vào trong rối rắm khi họ từ chối không tuân theo Lời của Đức Chúa Trời!
+ Không cầu nguyện và dửng dưng – Ở các câu 33-38, Chúa Jêsus đi cầu nguyện và bảo các môn đồ Ngài cùng cầu nguyện với Ngài. Họ đã dửng dưng trước các nhu cần của giờ phút ấy và thay vì cầu nguyện họ đã nằm xuống mà ngủ. Họ đã ngủ say không phải một lần, mà những ba lần! Họ đã tỏ ra thái độ dửng dưng trước mọi lời cảnh báo của Chúa. Họ đã từ chối không cầu nguyện và tìm kiếm Đức Chúa Trời, là điều sẽ giúp cho họ được suông sẻ khi các cuộc tấn công của ma quỉ và xác thịt xảy đến.
Bạn ơi, bạn đã hướng tới rắc rối khi bạn để cho đời sống cầu nguyện của bạn phải chết đi. Khi bạn thôi không tìm kiếm mặt Đức Chúa Trời và tỏ ra sự dửng dưng đối với ý muốn và Lời của Ngài, bạn đã hướng tới thất bại trong đời sống thuộc linh của mình. Khi người bề trong thôi không cầu nguyện nữa, người bề trong đang bắt đầu sụp đổ. Hãy tỉnh thức khi đời sống cầu nguyện của bạn khởi sự chịu khổ!
+ Tính bốc đồng – Chúa Jêsus nói cho người của Ngài biết rằng Ngài sẽ bị bắt và đấy là ý muốn của Đức Chúa Trời thì điều nầy mới xảy ra. Khi sự việc xảy ra, Phierơ phản ứng rất hấp tấp và đã giơ gươm lên, chém đứt tai của một người có tên là Manchu, câu 47.
Phierơ đã hành động ngoài ý muốn được tỏ ra của Đức Chúa Trời. Ông đã làm một việc mà ông tưởng là đúng mà chẳng nghĩ gì đến những gì đang thực hiện ở quanh ông. Phierơ đã ở chỗ không đồng bộ với Đức Chúa Trời và với chương trình của Đức Chúa Trời dành cho Chúa Jêsus. Chúa Jêsus không cần Phierơ bảo vệ cho Ngài. Ngài có thể triệu tập vô số thiên sứ đến để bảo vệ Ngài. Ngài có thể tự bảo vệ cho bản thân Ngài. Ngài vừa nói thì cả ngàn người đã ngã dài trên đất, Giăng 18:4. Sự bắt bớ, sự thử thách và sự chết của Ngài là một phần của ý chỉ Đức Chúa Trời dành Con yêu dấu của Ngài. Phierơ đã từ chối không chấp nhận ý chỉ ấy, thái độ ấy góp phần vào sự sa ngã của ông.
Chúng ta đã hướng tới một sự sa ngã khi chúng ta bước đi cách hấp tấp. Khi chúng ta chẳng nghĩ gì đến ý chỉ của Đức Chúa Trời, chúng ta đã hướng tới rắc rối rồi! Khi chúng ta không nghĩ gì tới mọi điều Đức Chúa Trời đang làm quanh chúng ta, chúng ta đã hướng tới rắc rối. Khi chúng ta ăn ở theo như chúng ta muốn, chúng ta đã hướng tới rắc rối. Khi chúng ta làm theo những việc chúng ta muốn làm, chúng ta đã ở ngoài, không đồng bộ hóa với chương trình của Đức Chúa Trời, và chúng ta đã hướng tới rắc rối. Chúng ta không bước đi với Ngài và khi chúng ta không đồng đi với Đức Chúa Trời, chúng ta đã hướng tới rắc rối.
Chúng ta cần phải thận trọng và cầu nguyện khi chúng ta bước đi qua cuộc sống nầy. Tình trạng bốc đồng nói: “Tôi có thể làm việc nầy với sức riêng của mình. Tôi không cần sự trợ giúp của Ngài Chúa ơi”. Thái độ cầu nguyện nói: “Lạy Chúa, tôi cần sự vùa giúp của Ngài để tìm được đường lối của Ngài qua cuộc đời nầy”. Thái độ cầu nguyện dẫn tới phước hạnh, còn thái độ kia dẫn tới thất bại.
+ Đi theo, nhưng “xa xa” – Chúng ta phải dành cho Phierơ sự khen ngợi. Tình cảm của ông dành cho Chúa Jêsus đã từ chối không cho phép ông lui đi. Ông đã đi theo Chúa, nhưng Kinh thánh cho chúng ta biết rằng ông đã đi theo “xa xa”, câu 54. Khoảng cách thuộc thể giữa Phierơ và Chúa Jêsus là một hình ảnh nói tới khoảng cách đạo đức đang mở ra ở giữa họ. Khi Phierơ ở gần Chúa Jêsus, ông được đầy dẫy với sự tin tưởng và đức tin. Khi ông ở cách xa Chúa Jêsus, ông đầy dẫy với sợ hãi và nghi ngờ.
Cũng thực như thế đối với chúng ta. Ý muốn của Chúa, ấy là con cái của Ngài phải bước đi sao cho thật gần gũi với Ngài. Khi chúng ta sống gần gũi với Ngài, chúng ta sẽ sống loại đời sống thanh sạch, thánh khiết. Chúng ta được ban cho đức tin, quyền phép và tình yêu thương. Chúng ta có đức tin để đứng cho Chúa Jêsus, quyền phép để làm việc cho Chúa Jêsus, và tình yêu của Đấng Christ sẽ dẫn dắt chúng ta tới chỗ phục vụ Ngài và thế giới ở chung quanh chúng ta vì sự vinh hiển của Ngài.
Khi chúng ta đi theo xa xa, chúng ta không phục vụ Ngài, kính mến Ngài và vâng theo Ngài như chúng ta đáng phải có. Khi tình cảm của chúng ta dành cho Ngài và mong muốn được ở gần Ngài phai nhạt đi, chúng ta đã hướng tới sự sa ngã. Nhiều người trong chính phòng nhóm nầy đang bước theo Chúa Jêsus, song quí vị đang theo Ngài ở xa xa. Hãy quay lại với Ngài hôm nay, trước khi bạn sa vào trong tội trọng hơn!
+ Bạn bè xấu – Trong khi Chúa Jêsus bị xét xử, bị khạc nhổ vào mặt, và bị đánh đòn, vị thủ lãnh của các môn đồ Ngài đang sưỡi ấm bên ngọn lửa của kẻ thù. Sự sa ngã của Phierơ càng tăng mau hơn vì ông thấy mình đang ở chỗ của hạng người chẳng có chút tình cảm nào dành cho Chúa Jêsus cả.
Khi chúng ta tự vây quanh mình với hạng người không tôn kính Chúa, chúng ta đã hướng tới chỗ rắc rối. Khi bạn thấy mình tốn thì giờ với hạng người bị hư mất hơn là bạn để thì giờ ra với dân sự của Chúa, bạn đang ở chỗ mà tấm lòng bạn hiện đang ở đấy.
Bạn bè xấu sẽ kết quả trong việc sống sai trái, tình cảm sai trái và sa ngã trong chỗ đầy thú tính. I Côrinhtô 15:33: “Anh em chớ mắc lừa: bạn bè xấu làm hư thói nết tốt”. I Côrinhtô 5:6: “...Anh em há chẳng biết rằng một chút men làm cho cả đống bột dậy lên sao?” Châm ngôn 13:20: “Ai giao tiếp với người khôn ngoan, trở nên khôn ngoan; Nhưng kẻ làm bạn với bọn điên dại sẽ bị tàn hại”.
+ Tôi thách từng tín đồ trong phòng nhóm nầy xem xét đời sống của mình theo ánh sáng kinh nghiệm của Phierơ. Ông đã thất bại vì ông đã để cho những việc nầy sống trong đời sống của ông. Những việc như thế chẳng nên có thực trong đời sống của bạn! Đã đến lúc thực hiện một sự thay đổi nếu bạn đã nhận ra được đâu là nan đề.
I. Phierơ và sự chối bỏ của ông
II. Phierơ và các lý do của ông
III. PHIERƠ VÀ SỰ HỐI TIẾC CỦA ÔNG
+ Phierơ chối Chúa ba lần. Không lâu sau khi ông chối Chúa, con gà gáy lên lần thứ nhì, y như Chúa Jêsus đã phán vậy, câu 72. Khi điều nầy xảy ra, Phierơ tức thì nhận ra điều mình đã làm.
Theo Luca 22:61, khi Phierơ chối Chúa Jêsus lần cuối cùng nầy, chính mình Chúa đã xây lại và nhìn thẳng vào Phierơ. Khi mắt ông mới ươn ướt, Phierơ nhớ lại lời lẽ của Chúa. Ông nhớ lại rằng Chúa Jêsus đã nói với ông mọi điều mà ông mới vừa làm ra.
Có phải bạn nghĩ đôi mắt của Chúa hằn lên với nét giận dữ và thù ghét chăng? Có phải bạn nghĩ Chúa đã nhìn vào Phierơ với cái nhìn của sự phán xét chăng? Tôi dám chắc đôi mắt của Chúa đã đầy dẫy với sự tổn thương. Nhưng, tôi cũng dám chắc rằng đôi mắt của Cứu Chúa đã đầy dẫy với tình yêu thương, ân điển, sự tha thứ và lòng thương xót. Tôi nghĩ rằng cái nhìn ấy đã nói: “Phierơ ơi, ta đã tìm cách cảnh báo ngươi, nhưng ngươi đâu có chịu nghe. Ngươi đã chối ta, nhưng ta vẫn yêu thương ngươi. Ngươi đã chối ta, nhưng ta sẽ chẳng chối ngươi đâu”.
+ Khi Phierơ nhìn thấy ánh mắt ấy, lời lẽ của Chúa đã thoắt hiện lại trong trí. Khi Phierơ nhớ lại, ông đã bỏ chạy ra khỏi sân và “khóc”. Chúng ta không được phép quan sát Phierơ khi ông bật khóc trên đường ông quay trở lại với Chúa. Đây là thời điểm ăn năn riêng và ấy chẳng phải việc của chúng ta. Cụm từ “người tưởng đến thì khóc” sát nghĩa có ý nói “ông tan vỡ”. Ông đã mất hết khả năng làm chủ tình cảm của mình. Ông là một người tan vỡ và ông sấp mình xuống trước mặt Chúa trong sự khóc lóc ăn năn thành thật!
+ Điều nầy nói gì với chúng ta? Nó chỉ nhắc cho chúng ta nhớ rằng Chúa cũng nhìn thấy chúng ta trong chỗ lạc lầm của chúng ta nữa. Ngài nhìn thấy tội lỗi mà chúng ta dung dưỡng trong đời sống của mình. Ngài nhìn thấy những quyến rũ gian ác mà chúng ta đang chạy theo sau. Ngài biết hết về các tình bạn bị cấm đoán mà chúng ta đang níu giữ. Ngài nhìn thấy mọi sự chúng ta đang làm. Ngài ghét tội lỗi đang câu nhữ chúng ta dang xa khỏi Ngài, song Ngài yêu chúng ta bất chấp mọi tội lỗi của chúng ta và Ngài kêu gọi chúng ta quay trở lại cùng Ngài với một tấm lòng ăn năn, tan vỡ.
Nếu chúng ta đến với Ngài xưng ra những tội lỗi của mình, Ngài sẽ tha thứ cho chúng ta. Đấy là lời hứa của Ngài, 1 Giăng 1:9. Nếu chúng ta từ chối không quay trở lại, Ngài sẽ chẳng có một sự lựa chọn nào khác hơn là sai sự sửa phạt đến trong đời sống của chúng ta với nổ lực đưa chúng ta trở về, Hêbơrơ 12:6-12. Nếu chúng ta ăn năn, chúng ta sẽ được phước, nếu chúng ta từ chối, sẽ phải có một giá rất cao để trả, 1 Giăng 5:16.
I. Phierơ và sự chối bỏ của ông
II. Phierơ và các lý do của ông
III. Phierơ và sự hối tiếc của ông
IV. PHIERƠ VÀ SỰ PHỤC HỒI CỦA ÔNG
+ Đây là chỗ mà câu chuyện bắt đầu chuyển tới phước hạnh. Chắc chắn là Phierơ đã làm buồn lòng Chúa trong một tư thế rất lớn lao. Chắc chắn sự sa ngã là lỗi của ông rồi. Chắc chắn là Phierơ đã ở ngoài ý chỉ của Đức Chúa Trời. Nhưng, chắc chắn là khi ông thực sự ăn năn, Phierơ đã được tha thứ và được phục hồi. Các sự kiện minh chứng cho điều nầy là sự thực.
Sau khi Chúa Jêsus sống lại từ kẻ chết, thiên sứ đã đến ngôi mộ đã nói điều nầy: Mác 16:7: “Nhưng hãy đi nói cho các môn đồ Ngài và cho Phi-e-rơ rằng: Ngài đi đến xứ Ga-li-lê trước các ngươi; các ngươi sẽ thấy Ngài tại đó, như Ngài đã phán cùng các ngươi vậy”.
Mấy ngày sau, Chúa Jêsus đã gặp Phierơ bên Biển Galilê, Giăng 21:15-17. Trong khi họ ở đó, Chúa Jêsus đã hỏi Phierơ ba lần, không biết ông có yêu Ngài không!?! Ba lần Phierơ khẳng định tình cảm của ông dành cho Chúa và Chúa Jêsus hứa sử dụng Phierơ. Lời hứa nầy được ứng nghiệm vào ngày Ngũ Tuần khi Phierơ được đầy dẫy Đức Thánh Linh, và khi ông rao giảng Tin Lành, ba ngàn linh hồn đã được cứu. Thế rồi, suốt con đường dẫn đến chương 12 sách Công Vụ các Sứ đồ, Phierơ là nhân vật chính trong Hội thánh đầu tiên. Phải, Phierơ đã làm buồn lòng Đức Chúa Trời, nhưng ông đã ăn năn và ông đã được tha thứ và được phục hồi bởi chính Đức Chúa Trời mà ông đã chối bỏ.
+ Những gì Chúa đã làm cho Phierơ, Ngài đã làm cho nhiều người trong phòng nhóm nầy. Có những người đang ngồi đây đã tẻ tách ra khỏi Chúa, chối bỏ Ngài bằng lời lẽ họ đã thốt ra và thứ đời sống mà họ đã sống. Nhưng, một số người ấy đã quay lại với Ngài. Khi họ quay lại, họ được tha thứ và họ được phục hồi và Đức Chúa Trời đang sử dụng họ một lần nữa cho sự vinh hiển của Ngài.
Bây giờ, một số người đang ở quanh họ đã không tha thứ cho họ hay quên đi những gì họ đã làm. Nhưng, Chúa biết rõ điều chi thực sự là vấn đề. Người nào từ chối không tha thứ các thất bại của người khác, bản thân họ đang bước đi trong sự kiêu ngạo, và họ cũng hướng tới chỗ sa ngã nữa đấy, Galati 6:1-2.
+ Nếu bạn đã từng phiêu bạt xa cách Đức Chúa Trời, bạn có thể quay trở về. Nếu bạn quay về, Chúa sẽ tiếp nhận bạn và Ngài sẽ tha thứ cho bạn. Ngài sẽ còn làm hơn thế nữa, Ngài sẽ phục hồi bạn và Ngài sẽ sử dụng một lần nữa cho sự vinh hiển của Ngài. Nếu bạn chưa ở đúng chỗ mà bạn đáng phải ở, hay nếu mối quan hệ của bạn với Chúa Jêsus không gần gũi nhưng nó đáng phải có, hãy quay về ngay đi! Đừng chậm trễ, hãy đến gần Chúa Jêsus!
Phần kết luận: Lần nầy trong đời sống của Phierơ là thời điểm bối rối lắm và đau khổ về mặt thuộc linh. Có phải Phierơ kiếm được gì quan trọng trong lần thất bại nầy? Có phải Phierơ thực sự tiếp thu được bất kỳ bài học thuộc linh nào mới mẻ chăng? Tôi nghĩ ông ấy có đấy.
Nếu bạn đọc thư tín I và II Phierơ, bạn sẽ thấy rằng Phierơ nhắc tới một số nan đề dẫn tới sự thất bại của chính ông.
+ Ông viết về sự kiêu ngạo: I Phierơ 5:5-6
+ Ông viết về sự bất tuân: I Phierơ 1:2; 3:1; 4:17
+ Ông viết về thái độ không cầu nguyện: I Phierơ 4:7
+ Ông viết về sự thỏa hiệp: I Phierơ 3:15; II Phierơ 3:17
+ Ông viết về sự bền đỗ – I Phierơ 5:8; II Phierơ 1:10
Phierơ đã học được bài học của mình và ông đã ăn năn và ông đã được phục hồi. Thắc mắc là, có phải bạn đã học được bài học của mình? Có phải bạn sẵn sàng để quay trở lại không? Há có phải bạn đã mệt mõi khi phiêu bạt quanh quẩn trong tội lỗi? Hãy quay trở lại hỡi con cái của Đức Chúa Trời, hãy quay trở lại!
Có phải bạn nhìn thấy các tấm biển chỉ sự nguy hiểm trong đời sống của bạn hôm nay không? Sự thực là, một số người trong các bạn đã hướng tới rắc rối và các bạn dường như không nhận ra mối nguy hiểm mà bạn đang ở trong đó hôm nay.
Hãy lắng nghe Luca 22:61 một lần nữa: “Chúa xây mặt lại ngó Phi-e-rơ”. Nếu Chúa có thể nhìn thấy Phierơ, thế thì Phierơ có thể nom thấy Chúa! Hãy tiếp điều nầy vào trong lý trí của bạn. Phierơ có thể nhìn thấy họ khạc nhổ nơi mặt của Chúa Jêsus. Ông có thể nhìn thấy họ đang đánh đòn Ngài, nhiếc móc Ngài và ngược đãi Ngài. Phierơ có thể nhìn thấy Chúa! Ông đã ở rất gần mà ông vẫn sa ngã.
Bạn chưa ở gần với Chúa Jêsus hôm nay. Điều gì khiến bạn nghĩ mình miễn không thất bại chứ? Hãy quay lại và làm điều chi khả dĩ thay đổi mà bạn cần phải làm. Hãy tránh xa khỏi mối nguy hiểm trước khi bạn bị cuốn vào rắc rối trầm trọng.
Có phải bạn được Chúa phục hồi cho không? Bạn có dâng lời cảm tạ Chúa vì tình yêu của Ngài, ân điển của Ngài và ơn tha thứ của Ngài? Hôm nay sẽ là một ngày tốt lành để làm việc ấy.
Bạn đã được cứu chưa? Nếu chưa, bạn có thể được cứu đấy. Hãy đến với Chúa Jêsus ngay bây giờ, nếu Ngài đang kêu gọi bạn.

Thứ Tư, 8 tháng 12, 2010

Mác 14:53-65: "ISRAEL NƠI NGAI PHÁN XÉT"



Mác 14:53-65
ISRAEL NƠI NGAI PHÁN XÉT
Phần giới thiệu
: Đúng là một buổi tối đầy sự thăng trầm cho Đức Chúa Jêsus Christ. Thứ nhứt, đã có đỉnh cao tuân giữ Lễ Vượt Qua với các môn đồ của Ngài trên phòng cao. Đã có chỗ thấp kém, Giuđa Íchcariốt rời bỏ Cứu Chúa để đi ra rồi nộp Ngài cho kẻ thù của Ngài. Đã có đỉnh cao chức vụ của Ngài với các môn đồ khi họ đi khỏi thành Jerusalem, qua Trũng Kítrôn đến vườn Ghếtsêmanê. Có trũng thương khó thuộc linh khi Ngài cầu nguyện trong vườn. Đã có cao điểm đầu phục tuyệt đối và hoàn toàn của Ngài đối với ý chỉ của Cha Ngài. Đã có điều thấp hèn của việc Giuđa hôn Ngài và binh lính tới bắt Ngài.
Dẫu thế nào đi nữa, bữa tối nầy thật là trọng đại. Trước khi bình minh ló dạng, Chúa Jêsus đã đối mặt với nhiều điều khó khăn. Phân đoạn Kinh thánh mà chúng ta đang nghiên cứu hôm nay cho chúng ta biết về một trong những thời điểm khó khăn ấy. Ở mấy câu nầy, chúng ta có các chi tiết cuộc xét xử Chúa chúng ta trước mặt Tòa Công Luận của người Do thái.
Trong cuộc xét xử nầy, Chúa Jêsus bị tố cáo và bị xét đoán bởi chính những người mà Ngài đã đến để cứu họ trong thế gian nầy. Họ đã bắt Ngài, buộc tội Ngài, tố cáo Ngài rồi kết án Ngài, họ tin rằng họ đang xét xử Chúa Jêsus trong đêm đó. Thực ra, Ngài đang xét đoán họ!
Thật vậy, phân đoạn Kinh thánh nầy không tỏ ra Chúa Jêsus chịu xét xử nhiều cho bằng nó tỏ ra Israel đang chịu xét xử. Theo một ý nghĩa rất thực, Israel đang đứng trước ngôi phán xét. Họ đang ở trong sự hiện diện của Đấng Mêsi, Vua, Đức Chúa Trời và Quan Án của họ, nhưng họ quá mù quáng không thể nhìn biết Ngài là ai nữa. Dân Israel đã ở trong cuộc xét xử vào buổi tối hôm ấy. Họ bị xét đoán bởi Chúa vinh hiển và họ bị cáo là có tội.
Tôi muốn rao giảng về Israel Nơi Ngai Phán Xét. Tôi muốn chỉ cho bạn thấy các lãnh vực trong cuộc xét xử nầy, ở đó họ đứng trong tội lỗi ở trước mặt Chúa. Họ Phạm Tội Trong Sự Triệu Tập Của Họ; Họ Phạm Tội Trong Sự Đối Mặt Của Họ; và Họ Phạm Tội Trong Sự Xét Đoán Của Họ.
Chúng ta hãy cùng nhau nghiên cứu các lãnh vực nầy trong cuộc xét xử Chúa hôm nay. Trong mấy câu nầy, chúng ta thấy sự phán xét của một dân tộc, nhưng chúng ta cũng thấy điều chi diễn ra khi một cá nhân chối bỏ Đức Chúa Jêsus Christ. Hãy chú ý cùng với tôi các lãnh vực phạm tội của Israel khi tôi rao giảng đề tài Israel Nơi Ngai Phán Xét.
I. HỌ PHẠM TỘI TRONG CUỘC TRIỆU TẬP CỦA HỌ (các câu 53-59)
(Minh họa: Khi Chúa Jêsus bị bắt trong vườn Ghếtsêmanê, trước tiên Ngài bị dẫn tới nhà của Anne, Giăng 18:13. Ông ta là cha vợ của Thầy Tế Lễ Thượng Phẩm đương niên là Caiphe, và hiển nhiên là một nhân vật được xem là có ảnh hưởng đáng kể giữa vòng người Do thái. Sau khi Anne đã tra gạn Chúa Jêsus xong, ông ta bèn chuyển Ngài sang cho Caiphe, Giăng 18:24.
Phân đoạn Kinh thánh của chúng ta xử lý với cuộc xét xử của Chúa trước Tòa Công Luận. Tòa Công Luận là toà án tối cao gồm 71 thành viên của xứ Israel. Từ ngữ “Tòa Công Luận” sát nghĩa có ý nói “ngồi lại với nhau”. Họ là các quan chức cai trị của xứ sở. Các thành viên của hội đồng được chọn vì sự trưởng thành và vì sự khôn ngoan của họ. Người ta trông mong họ xét xử thật công bằng và vô tư trong mọi vụ việc của họ. Thầy tế lễ thượng phẩm nắm hết các thủ tục tố tụng và vì thế ông ta nắm lấy chặng giữa trong việc xét xử Chúa.
Chúng ta chỉ có thể suy nghĩ, nhưng dường như rõ ràng khi có lời cho hay Giuđa đang dẫn lính tới địa điểm của Chúa Jêsus, Tòa Công Luận đã bắt đầu triệu tập lại. Những con người tôn giáo, đầy quyền lực nầy có thể ngửi được mùi máu. Họ đã muốn tiêu diệt Chúa Jêsus một thời gian rồi, và lần nầy là cơ hội của họ. Vì vậy, họ cùng nhau nhóm lại đặng xét xử Ngài.
Cuộc triệu tập của họ là bất hợp pháp ở một số cấp độ. Bản chất bất hợp pháp trong các thủ tục của họ đã làm cho mọi luật lệ của họ chẳng còn có hiệu lực nữa, nhưng mấy cái bánh xe của sự tể trị thiêng liêng đang chuyển động và chúng sẽ không dừng lại cho tới chừng nào Chúa Jêsus gục chết trên thập tự giá.
Tôi muốn dành ra một phút để chia sẻ với bạn mấy lý do cho thấy tại sao cuộc xét xử nầy là bất hợp pháp.
A. Cuộc xét xử bất hợp pháp vì thời điểm triệu tập của nó – Luật lệ của người Do thái, được quy định trong hệ thống pháp đình của họ, đã cấm họ không được xét xử lúc ban đêm hay trong một ngày lễ lạc. Tổ chức xét xử vào một trong các thời điểm nầy sẽ ngăn trở toàn thể hội đồng không nhóm lại được, và ngăn trở kẻ bị cáo không đưa ra được lời biện hộ có hiệu lực, lại còn khó khăn thêm cho những người làm chứng đến với cuộc xét xử nữa. Cuộc xét xử nầy rõ ràng đã vi phạm các điều khoản nầy, một khi nó được tổ chức lúc ban đêm và nhằm vào ngày Lễ Vượt Qua.
B. Cuộc xét xử bất hợp pháp vì địa điểm nó được tổ chức – Chính luật lệ của người Do thái duy trì rằng mọi cuộc xét xử được Tòa Công Luận tổ chức cần phải được tổ chức ở Đại Sảnh Hewn Stones, là địa điểm có nền của Đền Thờ. Điều luật nầy đã bị vi phạm vì cuộc xét xử đã được tổ chức trong dinh thự riêng của Thầy Tế Lễ Thượng Phẩm.
C. Cuộc xét xử bất hợp pháp vì cách thức nó được tổ chức – Có nhiều vấn đề với cuộc xét xử Chúa Jêsus trong đêm đó. Giữa vòng những việc bất hợp pháp trong cuộc xét xử Ngài là những việc sau đây:
1. Những cuộc xét xử là bất hợp pháp trong đêm trước ngày Sa-bát vì luật lệ của người Do thái đòi hỏi hoãn một ngày trước khi kết án.
2. Một bản án có tội chỉ có thể được kết vào ngày sau cuộc xét xử.
3. Tòa Công Luận không đưa ra những bản án nghịch lại kẻ bị kiện, họ chỉ có thể nghiên cứu bản án do những người khác soạn ra.
4. Những bản án nghịch lại Chúa Jêsus đã bị đổi luôn trong suốt cuộc xét xử. Trước tiên Ngài bị kết án với lời đe dọa hủy diệt Đền Thờ. Sau đó, Ngài bị kết án với tội phạm thượng. Thế rồi, khi Ngài đứng trước mặt Philát, những bản án của Ngài lại bị thay đổi nữa. Lần nầy, Ngài bị kết án với việc xưng nhận mình là Vua dân Giuđa và về việc cấm nộp thuế cho Rôma.
5. Đức Chúa Jêsus Christ không được phép biện hộ trước toàn án. Mọi bản án nghịch lại Ngài đã được nghiên cứu kỷ lưỡng và Ngài chỉ được phép đòi các nhân chứng của riêng Ngài.
6. Tòa Công Luận tuyên bố án tử hình. Theo luật thì Tòa Công Luận không thể kết án hay thi hành án tử hình.
D. Cuộc xét xử bất hợp pháp vì lý do nó được tổ chức – Cuộc xét xử nầy không phải là tìm kiếm sự thật có tội hay vô tội của một người. Cuộc xét xử nầy đã xong rồi trước khi nó khởi sự! Trong con mắt của Tòa Công Luận, Chúa Jêsus là có tội trước khi cuộc xét xử bắt đầu. Ngài không có một cơ hội nào để rời khỏi cuộc xét xử nầy với bất cứ một điều chi khác hơn bản án có tội và án tử hình!
E. Cuộc xét xử bất hợp pháp vì những nhân chứng mà họ cho đòi – Khi bạn đọc phân đoạn Kinh thánh nầy, bạn có thể nhìn thấy các cấp lãnh đạo Do thái có vấn đề. Người ta chắc chắn đã đi ra và “đã kiếm” những nhân chứng để xác nhận nghịch lại Chúa Jêsus. Từ ngữ “tìm kiếm” có ý nói “săn lùng, tìm cho ra”. Hạng người nầy chỉ được phép bước tới phía trước rồi đưa ra vào lời tố cáo nghịch lại Chúa Jêsus mà thôi.
Câu 56 cho biết rằng “có nhiều kẻ làm chứng dối nghịch cùng Ngài”. Có nhiều người đã tiến ra phía trước bằng lòng nói dối vì người Do thái. Họ đã nói dối nghịch lại Đấng chẳng làm chi khác hơn là làm lành, và Ngài chẳng nói gì khác hơn là lẽ thật.
Vấn đề với các nhân chứng của họ, ấy là chẳng một bằng chứng nào trong số đó ăn ý với nhau cả. Theo luật pháp, bằng chứng của các nhân chứng trong một cuộc xét xử phải ở trong sự nhất trí trọn vẹn, Phục truyền luật lệ ký 17:6; 19:15; Dân số ký 5:30.
Sau cùng, theo các câu 57-58 và Mathiơ 26:60-61, hai trong số những chứng dối nầy đã nhận câu chuyện của họ rất là thực. Họ nói với tòa án rằng Chúa Jêsus đã dọa hủy diệt Đền Thờ và xây lại nó chỉ trong ba ngày. Ngay cả các phiên bản của họ về những điều Chúa Jêsus đã phán đã không hiệp với nhau, câu 59.
Chữ “đền thờ” ở câu 58 ám chỉ đến Nơi Thánh, chớ không phải cả khuôn viên Đền Thờ. Họ đang tố cáo Chúa Jêsus về sự đe dọa hủy diệt nơi thánh khiết nhất trong khắp xứ Israel. Đối với hai lỗ tai của họ, điều nầy thật là hoàn toàn phạm thượng. Thêm vào với lời xưng nhận lố bịch nầy Ngài sẽ xây lại Đền Thờ trong ba ngày khi nó đã được xây cất trong gần 50 năm.
Sự thực là, Chúa Jêsus không nói ra những điều mà họ xưng Ngài đã nói. Ở Giăng 2:19, Chúa Jêsus đã phán như vầy: “Hãy phá đền thờ nầy đi, trong ba ngày ta sẽ dựng lại!” Khi Ngài phán như thế, Ngài không ám chỉ khuôn viên Đền Thờ tại thành Jerusalem. Ngài đang ám chỉ đến chính thân thể của Ngài sẽ bị hủy diệt trên thập tự giá và sống lại từ kẻ chết ba ngày sau đó, Giăng 2:21. Và, nếu bạn mở lại rồi đọc lời lẽ của Chúa Jêsus, Ngài không hề phán Ngài sẽ hủy diệt bất cứ sự gì. Ngài phán, và tôi đóng ngoặc: “Nếu các ngươi phá đền thờ nầy, Ta sẽ dựng lại nó trong ba ngày”. Những lời vu cáo của họ là một sự bịa đặt hoàn toàn!
(Lưu ý: Tôi thấy điều đáng buồn, ấy là không một người nào tiến ra phía trước để biện hộ cho Chúa trong đêm đó. Họ không tìm kiếm các bạn hữu của Ngài, họ tìm kiếm những người nào sẽ làm chứng nghịch lại Ngài, nhưng có một số người ở đó có thể chổi dậy vì Chúa Jêsus. Thí dụ, Giăng đang có mặt ở đó, Giăng 18:15. Tại sao Giăng không tiến ra phía trước và làm chứng chứ? Simôn Phierơ đã có mặt ở đó, câu 54. Ông đã ngồi cạnh ngọn lửa của kẻ thù và đóng kín miệng của mình. Chúng ta sẽ nhìn vào Simôn Phierơ chi tiết hơn vào tuần tới. Nếu họ tìm kiếm, họ sẽ thấy có nhiều người đã đứng với Chúa Jêsus. Những người như Laxarơ, Xachê, những kẻ từng là người phung, Giairu, bà hóa thành Nain, người bị quỉ ám ở Gadarene, người đàn bà với bịnh mất huyết, v.v… Nhưng, họ không tìm cách giúp đỡ; họ chỉ hứng thú trong việc tìm ra lỗi lầm và tự mình tống khứ Chúa Jêsus một lần đủ cả.
Thật là xấu hổ đối với mọi người mà Đức Chúa Jêsus Christ đã giúp đỡ, đã phục vụ cho, đã cho ăn, đã chữa lành, đã chúc phước và đã dạy dỗ, không một ai bằng lòng bước ra rồi đứng với Ngài trong cái đêm khủng khiếp ấy. Trong khi có nhiều người đang bằng lòng đặt sinh mạng của họ vào lằn ranh vu cáo Chúa Jêsus, Phục truyền luật lệ ký 9:16-19. Nếu một người bị xác chứng là một kẻ làm chứng dối, hắn sẽ nhận lãnh cùng án phạt sẽ giáng trên người mà họ đã nói dối nghịch cùng. Nói chung, chúng ta không biết rõ các hoàn cảnh xoay quanh cuộc xét xử. Có lẽ không một ai, ngay cả Giăng và Phierơ, biết chính xác những gì đang xảy ra trong cuộc xét xử.
Tấm lòng tôi như tan nát khi nghĩ đến Chúa Jêsus đang đứng ở đó, giữa vòng các kẻ thù, tất cả chỉ có một mình. Khi tôi suy nghĩ về những gì Ngài đã chịu đựng trong đêm đó, tôi lấy làm lạ tôi sẽ làm gì nếu như tôi có mặt ở đó).
(Lưu ý: Những gì chúng ta nhìn thấy trong mấy câu nầy là một bức họa rõ ràng nói tới tấm lòng của con người. Những người nầy không quan tâm việc Chúa Jêsus là vô tội. Họ không quan tâm Ngài chẳng làm việc chi sai trái. Họ không quan tâm Ngài là Đấng Mêsi của họ và Ngài là Con của Đức Chúa Trời. Họ thù ghét Ngài vì Ngài là mối đe dọa con đường sống của họ. Họ thù ghét Ngài nhiều đến nỗi họ bằng lòng nói dối, phá vỡ luật pháp của chính họ rồi xét đoán một người vô tội tới chết).
Việc ấy ngày nay cũng như vậy đấy! Vẫn có những người trong thế giới của chúng ta, họ thù ghét danh của Chúa Jêsus nhiều đến nỗi họ sẽ làm bất cứ điều gì trong năng lực của họ để hủy diệt Ngài và tất cả những ai chịu theo Ngài. Chúng ta sẽ nhìn thấy sự thù ghét ấy tỏ ra trong xã hội của chúng ta, và những việc sẽ diễn ra còn tệ hại nhơn. Minh họa: Giăng 15:20: “Hãy nhớ lời ta đã nói cùng các ngươi: Đầy tớ chẳng lớn hơn chủ mình. Nếu họ đã bắt bớ ta, ắt cũng bắt bớ các ngươi; bằng họ đã giữ lời ta, ắt cũng giữ lời các ngươi”.
I. Họ phạm tội trong cuộc triệu tập của họ
II. HỌ PHẠM TỘI TRONG SỰ ĐỐI MẶT CỦA HỌ (các câu 60-62)
A. Caiphe và nỗi xấu hổ của ông ta (câu 60) – Khi cuộc xét xử tiếp tục, Caiphe có một vấn đề rất thực. Thật là khó kết án Chúa Jêsus với sự làm chứng của những nhân chứng mâu thuẫn, vì vậy ông ta thay đổi chiến thuật. Ông ta bị thất bại với những thủ tục như thế, vì vậy ông ta nhìn nhận vai trò của bên nguyên rồi tiếp tục tấn công. Ông ta bị bối rối bởi sự thực Chúa Jêsus không chịu mở miệng để bài bác những lời nói dối mà các nhân chứng giả đã nói về Ngài. Vì thế, ông ta kêu gọi Chúa Jêsus hãy tự biện hộ cho mình.
B. Đấng Christ và sự im lặng của Ngài (câu 61a) – Khi đáp ứng với mọi tra hỏi của Caiphe, Chúa Jêsus đã làm thinh. Ngài từ chối không đề cao mọi lời dối trá của kẻ thù Ngài. Trong phân đoạn nầy, Chúa Jêsus đang làm ứng nghiệm lời tiên tri xưa của tiên tri Êsai. Êsai 53:7: “Người bị hiếp đáp, nhưng khi chịu sự khốn khổ chẳng hề mở miệng. Như chiên con bị dắt đến hàng làm thịt, như chiên câm ở trước mặt kẻ hớt lông, người chẳng từng mở miệng”.
C. Caiphe và giải pháp của ông ta (câu 61b) – Khi nhìn thấy sự bài bác của Chúa Jêsus, Caiphe liền thay đổi chiến thuật một lần nữa. Ông ta buộc Chúa Jêsus phải thề trước mặt Đức Chúa Trời. Ở Mathiơ 26:63, Caiphe nói: “Ta khiến ngươi chỉ Đức Chúa Trời hằng sống mà thề...”, đây là một nổ lực buộc Chúa Jêsus phải trả lời. Caiphe đã lo liệu xong với những nhân chứng nào không đồng ý. Ông ta đã hoàn tất xong cuộc xét xử. Ông ta đã xong việc với Chúa Jêsus. Vì vậy, ông ta đi thẳng vào trọng tâm vấn đề của Tòa Công Luận với Chúa.
Ông ta hỏi Chúa Jêsus thẳng thừng: “ngươi có phải là Đấng Christ, Con Đức Chúa Trời chăng?” Câu hỏi nầy đã được đưa ra để khiến Chúa tự buộc tội mình và nói ra về những việc đã từng ghi chép mà họ đã nghe nói về Ngài. Giờ đây, xưng mình là Đấng Mêsi không phải là phạm thượng nữa rồi, mà điều đó sẽ trở thành phạm thượng trong con mắt của những kẻ tự xưng mình có thần tính. Bằng cách đưa ra câu hỏi nầy, Caiphe hy vọng khiến Chúa Jêsus phải tự buộc tội mình.
Đồng thời, Caiphe là một kẻ giả hình! Đây là một nhân vật vô liêm sĩ và gian ác đến nỗi ông ta cứ mãi lo tìm kiếm những nhân chứng giả phải nói dối về Chúa Jêsus, nhưng đồng thời, ông ta xưng mình là thánh đến nỗi ông ta thậm chí sẽ không xưng ra danh của Đức Chúa Trời. Ông ta sẽ không sử dụng danh của Đức Chúa Trời, nhưng gọi Ngài là “Đấng Phước Hạnh”. Chẳng có một con người nào nguy hiểm đối với lý tưởng của Đấng Christ hơn kẻ giả hình tôn giáo. Người nào xưng mình yêu mến Đức Chúa Trời ở mặt nầy, đang khi làm việc chống lại Đức Chúa Trời ở mặt kia là người lẫn tránh với mọi giá!
D. Đấng Christ và câu nói của Ngài (câu 62) – Chúa Jêsus không làm cho Caiphe phải thất vọng. Chúa Jêsus mở miệng Ngài ra rồi nói hai từ xét đoán Ngài phải bị đóng đinh trên thập tự giá. Ngài thốt ra hai từ xác định Ngài với các kẻ thù Ngài. Hai từ mà Chúa Jêsus đã nói không được thốt ra bởi môi miệng của người Do thái trong mấy trăm năm. Khi Chúa Jêsus mở miệng Ngài ra, Ngài đã phán: “TA LÀ”.
Tôi có cần nhắc cho bạn nhớ đây là danh giao ước của Đức Chúa Trời không? Khi Môise hỏi Đức Giêhôva ông sẽ nói cho họ biết ai sai phái ông, ông phải nói cho họ biết: “Ta là Đấng Tự Hữu Hằng Hữu; rồi Ngài lại rằng: Hãy nói cho dân Y-sơ-ra-ên như vầy: Đấng Tự Hữu đã sai ta đến cùng các ngươi” Xuất Êdíptô ký 3:14.
Đây là lời Chúa Jêsus xưng nhận rõ ràng Ngài là Đức Chúa Trời ở trong loài xác thịt. Đây là câu nói rõ ràng với người Do thái rằng Ngài là Đức Chúa Trời. Ngài tiếp tục nói cho họ biết một ngày kia, họ sẽ đối mặt với Ngài trong sự phán xét!
Các cấp lãnh đạo Do thái yếu đuối kia tưởng họ đã nắm quyền làm chủ trong đêm đó. Họ tưởng họ đã bắt được Chúa Jêsus ở chỗ mà họ muốn bắt lấy Ngài. Không một điều gì vượt quá sự thật! Họ không tin rằng Ngài là Đấng mà Ngài hiện xưng nhận, nhưng sự thiếu đức tin của họ không làm thay đổi sự thực Ngài đã và đang là ai. Ngài đã xét đoán họ đúng ở chỗ đó. Ngài đã hủy diệt họ bằng lời của Ngài. Ngài đã khiến cho đất há miệng ra và nuốt lấy họ khi còn sống. Tuy nhiên, Ngài đã không xét đoán họ. Ngài đang dành giữ sự phán xét của Ngài cho một ngày trong tương lai!
Sự thực cho thấy Ngài là Đức Chúa Trời. Ngài là con đường cứu rỗi duy nhứt. Ngài là Quan Án Công Bình sẽ xét đoán thế gian một ngày kia, Giăng 5:22. Một ngày kia, mỗi người bị hư mất đã từng sống, kể cả hạng người bất kỉnh trong mấy câu nầy, sẽ đứng trước mặt Chúa Jêsus trong ngày phán xét, Khải huyền 20:11-15. Ngài sẽ đưa hết thảy họ vào trong Địa Ngục vì họ chối bỏ Ngài.
Đừng để cho điều đó trở thành số phận của họ. Bạn sẽ bị hư mất hôm nay, nhưng bạn không cứ phải giữ lấy tình trạng ấy. Hãy đến với Chúa Jêsus rồi tin theo Ngài và Ngài sẽ cứu lấy linh hồn bạn và dời cơn thạnh nộ của Đức Chúa Trời ra khỏi đời sống của bạn. Bạn không nên sống giống như Caiphe mù quáng kia, bạn sẽ được cứu, nếu bạn chịu đến với Đức Chúa Jêsus Christ, Rôma 10:9.
I. Họ phạm tội trong cuộc triệu tập của họ
II. Họ phạm tội trong sự đối mặt của họ
III. HỌ PHẠM TỘI TRONG SỰ XÉT ĐOÁN CỦA HỌ (các câu 62-65)
A. Tuồng kịch của họ (các câu 63-64a) – Khi Caiphe nghe thấy lời lẽ của Chúa Jêsus, ông ta đã nghe mọi sự ông ta cần phải nghe. Trong lý trí của ông ta, thì chẳng cần gì đến nhân chứng nữa. Chẳng cần gì phải xét xử nữa. Chẳng còn cần bằng chứng về tội lỗi của Chúa nữa. Caiphe tin rằng ông ta đã nghe thấy sự phạm thượng, khi thực ra, ông ta đã nghe thấy lẽ thật!
Caiphe đã xé áo mình. Đây là phản ứng gây xúc động đối với những gì ông ta xem là phạm thượng. Đây là cách làm mang tính biểu tượng được ấn định để chuyển tải nổi kinh khiếp nơi bề mặt tội ác kinh khủng nghịch cùng Đức Chúa Trời. Caiphe tưởng mình đang gây xúc động, khi thực ra, ông ta còn làm hơn thế nữa!
Lêvi ký 21:10 chép: “Thầy tế lễ được quyền trọng hơn các anh em mình, - đã được rưới dầu xức trên đầu mình, được biệt riêng ra thánh, để mặc mình bằng bộ áo thánh, - chẳng nên để đầu trần và xé áo mình”. Khi Caiphe xé áo mình, ông ta tự làm mất tư cách mình. Ông ta không nhận ra việc ấy, nhưng ông ta mới chỉ bước ra khỏi sự hiện diện của Đấng còn siêu việt hơn chính ông ta. Caiphe đã công bố tình trạng ông không còn xứng đáng giữ lấy chức Thầy Tế Lễ Thượng Phẩm của Israel.
Đấng đang đứng trước mặt ông ta thì đủ tư cách cho chức vụ ấy! Thầy Tế Lễ Thượng Phẩm nầy sẽ thực thi ơn cứu chuộc với huyết của chính Ngài trên thập tự giá. Ngài sẽ sống lại từ kẻ chết, thăng thiên về trời để chuộc lấy cô dâu của Ngài, và Ngài sẽ chiếm lấy ngôi bên tay hữu của Đức Chúa Trời để cầu thay cho dân sự của Ngài. Caiphe chỉ mới bước qua một bên để dọn đường cho Đấng siêu việt và xứng đáng để làm Thầy Tế Lễ Thượng Phẩm cao cả của chúng ta! Hãy lắng nghe những gì Kinh thánh nói về Thầy Tế Lễ Thượng Phẩm của chúng ta: “Ấy đó thật là thầy tế lễ thượng phẩm mà chúng ta có cần dùng, thánh khiết, không tội, không ô uế, biệt khỏi kẻ có tội, được cất lên cao hơn các từng trời: không như những thầy tế lễ thượng phẩm khác, cần phải hằng ngày dâng tế lễ, trước vì tội mình, sau vì tội dân; Ngài làm việc đó một lần thì đủ cả, mà dâng chính mình Ngài làm tế lễ. Vì luật pháp lập những người vốn yếu đuối làm thầy tế lễ thượng phẩm; nhưng lời thề có sau luật pháp thì lập Con, là Đấng đã nên trọn lành đời đời” Hêbơrơ 7:26-28.
B. Quyết định của họ (câu 64b) – Toàn thể tòa công luận đều nghị án: “Có tội!” Họ tuyên bố Chúa Jêsus là đáng chết và họ xét đoán Ngài với số phận ấy. Số người đó chẳng khác gì hơn là những kẻ giả hình, giả vờ phẫn nộ thậm chí khi họ sử dụng các chiến thuật hạ cấp để xét đoán Ngài. Nhưng, đấy là đường lối của kẻ ác!
C. Sự nguyền rủa của họ (câu 65) – Sau khi Chúa Jêsus bị kết án, bản chất thật của số người nầy đã lộ ra. Những nhà lãnh đạo tôn giáo có giáo dục, được luyện lọc, họ xây hướng về Chúa Jêsus giống như một bầy chó dữ. Số người nầy đã khạc nhổ trên mặt của Cứu Chúa! Họ đã che đầu Ngài lại rồi đánh Ngài, lại đòi Ngài nói cho họ biết ai đã làm chuyện ấy. Khi những nhà lãnh đạo tấn công Chúa Jêsus, các tôi tớ đã theo sau quất nơi mặt Ngài với những nhánh chà là trong tay họ. Đúng là một bối cảnh rất kinh khiếp! Bối cảnh ấy làm cho tôi nổi giận mỗi khi tôi đọc lại nó!
Nhưng, đây là sự ứng nghiệm lời tiên tri!
+ Êsai 50:6: “Ta đã đưa lưng cho kẻ đánh ta, và đưa má cho kẻ nhổ râu ta; ai mắng hoặc giổ trên ta, ta chẳng hề che mặt”.
+ I Phierơ 2:23: “Ngài bị rủa mà chẳng rủa lại, chịu nạn mà không hề hăm dọa, nhưng cứ phó mình cho Đấng xử đoán công bình”.
Bởi sự chối bỏ công khai của họ đối với Chúa Jêsus, và bởi sự hèn nhát trong sự họ công kích chống nghịch Ngài, số người nầy đã đưa dân tộc họ đến với sự phán xét của Đức Chúa Trời, và họ đã phó chính linh hồn họ cho những ngọn lửa của Địa Ngục!
Phần kết luận: Israel đã đứng tại ngai phán xét và họ bị thấy là thiếu sót. Họ bị đặt trên cán cân và thấy là kém thiếu. Dân tộc đã chối bỏ Chúa Jêsus, rồi kết quả là, họ đã ở dưới sự phán xét kinh khủng của Đức Chúa Trời. Israel đã trả một giá rất cao cho sự họ chối bỏ Đấng Mêsi của họ.
Dù họ biết hay không biết, bạn cũng phải đứng trước mặt Chúa Jêsus trong ngày phán xét. Giống như những người Do thái tôn giáo kia, bạn phải quyết định bạn sẽ tin theo Ngài hay chối bỏ Ngài. Nếu bạn tin theo Ngài, Ngài sẽ cứu lấy linh hồn bạn. Nếu bạn chối bỏ Ngài, Ngài sẽ xét đoán linh hồn bạn trong Địa Ngục.
Điều nào sẽ xảy ra cho bạn đây? Khi bạn gặp Chúa Jêsus một ngày kia, và bạn sẽ gặp đấy, liệu bạn sẽ gặp Ngài là Chúa và Cứu Chúa của bạn không? hay, liệu bạn sẽ đối mặt với Ngài là Quan Án của bạn?
Bạn có chịu vòng tay ôm lấy Ngài với sự biết ơn vì cái giá mà Ngài đã trả để chuộc lấy hạng tội nhân không? Hoặc, bạn sẽ khạc nhổ nơi mặt Ngài giống như mấy người Do thái kia chăng?
Bạn đã nghe sứ điệp rồi, giờ đây là lúc cho bạn phải quyết định bạn đứng ở phía nào về Chúa Jêsus. Có phải Ngài là kẻ nói dối đáng bị nhiếc móc và bị giết không? hay, có phải Ngài là Chúa, là Đấng đáng được yêu thương và vâng phục?